Bài viết xem xét vai trò của phụ nữ trong việc thực hiện các Giải pháp dựa vào Thiên nhiên (NbS) để giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu và mất an ninh nguồn nước ở An Giang, Việt Nam, đồng thười, làm nổi bật những đóng góp đa dạng của phụ nữ với tư cách là người tham gia sản xuất nông nghiệp với các giải pháp dựa vào thiên nhiên và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Từ đó, bài viết gợi ý các chính sách và các khuôn khổ quản trị toàn diện để trao quyền cho phụ nữ, thúc đẩy sự công bằng và thành công lâu dài trong việc thực hiện NbS nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và tình trạng thiếu nước tại An Giang nói riêng và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung.

Ảnh minh họa. Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
Giới thiệu
Lưu vực hạ lưu sông Mekong (LMB), trải dài qua Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, đại diện cho một điểm nóng khí hậu toàn cầu rất dễ bị tổn thương trước các tác động của biến đổi khí hậu, chẳng hạn như sự thay đổi mô hình lượng mưa, tần suất hạn hán gia tăng và lũ lụt dữ dội hơn [10]. Tỉnh An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Mekong chảy vào Việt Nam, phải đối mặt với những mối đe dọa đáng kể đối với năng suất nông nghiệp, nghề cá và nguồn nước ngọt, gây nguy hiểm cho sinh kế nông thôn và an ninh lương thực [4].
Phụ nữ trong các cộng đồng này phải gánh chịu những gánh nặng và những hạn chế từ khả năng tiếp cận các nguồn lực thiết yếu, bao gồm đất đai, tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật và tính đại diện chính trị. Đồng thời, họ đóng vai trò không thể thiếu trong việc quản lý nước sinh hoạt, sản xuất lương thực và tài nguyên thiên nhiên, đặt họ ở giao điểm của tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và tiềm năng thích ứng. Mặc dù có những đóng góp quan trọng, vai trò và đóng góp của phụ nữ trong thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong các sáng kiến Giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS), vẫn chưa được tìm hiểu đầy đủ.
Các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) được định nghĩa là "các hành động để bảo vệ, bảo tồn, phục hồi, sử dụng bền vững và quản lý các hệ sinh thái trên cạn, nước ngọt, ven biển và biển tự nhiên hoặc đã được sửa đổi nhằm giải quyết các thách thức về xã hội, kinh tế và môi trường một cách hiệu quả và thích ứng, đồng thời mang lại phúc lợi cho con người, dịch vụ hệ sinh thái, khả năng phục hồi và lợi ích về đa dạng sinh học" [11]. Lợi ích của NbS trải rộng trên các khía cạnh môi trường (giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái), xã hội (cải thiện đời sống, tạo việc làm, tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng) và kinh tế [3,7].
Được công nhận trên toàn cầu là các phương pháp tích hợp hệ sinh thái, NbS đã được áp dụng ở Đồng bằng sông Cửu Long thông qua các hoạt động như phục hồi đất ngập nước, canh tác lúa - cá và nông lâm kết hợp, đồng thời nâng cao sinh kế và bảo tồn đa dạng sinh học [11]. Tại An Giang, các nỗ lực NbS bao gồm thúc đẩy các mô hình sinh kế thích ứng với khí hậu, quản lý nguồn nước và thủy sản dựa vào cộng đồng, bảo tồn môi trường sống dưới nước, phục hồi đất ngập nước và vùng đồng bằng ngập lũ, lâm nghiệp bền vững theo chương trình REDD+ và các sáng kiến giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Mặc dù đầy hứa hẹn như vậy, NbS vẫn còn tương đối mới và chưa được cán bộ địa phương và người dân ở các nước vùng hạ lưu sông Cửu Long sử dụng rộng rãi. Ngoài ra, khoảng cách giới tính nghiêm trọng vẫn tồn tại trong việc thực hiện và quản trị các giải pháp dựa trên tự nhiên (NbS), hạn chế quyền năng của phụ nữ và làm giảm hiệu quả can thiệp. Bài báo này khám phá kiến thức về NbS cùng với các thực tiễn địa phương có giá trị ở An Giang nhằm thúc đẩy khả năng thích ứng với các rủi ro khí hậu đang thay đổi. Hơn nữa, bài báo này giải quyết khoảng trống kiến thức quan trọng về vai trò và quyền của phụ nữ trong thích ứng khí hậu dựa trên NbS và giảm thiểu tình trạng mất an ninh nguồn nước ở An Giang.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu có chủ đích và lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tập trung mạnh vào Bình đẳng giới, Khuyết tật và Hòa nhập xã hội (GEDSI) để đảm bảo sự đại diện công bằng từ các nhóm bị thiệt thòi. Phương pháp lấy mẫu có chủ đích đã xác định người tham gia cho các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn người cung cấp thông tin chính và lập bản đồ có sự tham gia. Các lãnh đạo cộng đồng, cả nam và nữ, đã tham gia thảo luận về tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu, trong khi các trưởng thôn và chính quyền địa phương được chọn làm người cung cấp thông tin chính. Khung GEDSI được áp dụng một cách nghiêm ngặt để đảm bảo sự tham gia của các nhóm xã hội đa dạng.
Tại An Giang, 75 người tham gia đã được lựa chọn có chủ đích để phỏng vấn, trong đó nữ giới chiếm gần 50%. Các cuộc phỏng vấn bao gồm 13 người cung cấp thông tin chủ chốt, bao gồm các lãnh đạo cộng đồng, chính quyền địa phương, nhà nghiên cứu và nhân viên kỹ thuật: trong đó có 6 người là nữ. Công cụ này cho phép thu thập dữ liệu định tính phong phú liên quan đến tính dễ bị tổn thương của cộng đồng, năng lực thích ứng và khả năng phục hồi. Có 62 người (31 nữ) tham gia vào các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu. Trong số đó, 50 người tham gia đại diện cho các nhóm bị thiệt thòi: các gia đình nghèo, cộng đồng người bản địa, người khuyết tật, góa phụ và người cao tuổi, với sự đại diện giới tính cân bằng. Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng đảm bảo việc lựa chọn người tham gia một cách ngẫu nhiên nhưng cân đối từ các nhóm xã hội khác nhau, từ đó tăng cường tính toàn diện và tính đại diện của việc thu thập dữ liệu thông qua các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm. Những cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu này giúp thúc đẩy sự đối thoại cởi mở, thu thập những kinh nghiệm và quan điểm đa dạng về các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS), chiến lược ứng phó và khả năng phục hồi của cộng đồng liên quan đến tình trạng thiếu nước và thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập tại An Giang vào tháng 8 năm 2025 đã được phân tích bằng phần mềm NVivo, giúp hiểu sâu hơn về thực tiễn và rào cản NbS của cộng đồng. Thảo luận nhóm tập trung không chỉ xác nhận kiến thức cộng đồng mà còn làm nổi bật kiến thức sinh thái truyền thống và các chuẩn mực giới ảnh hưởng đến sự tham gia NbS. Phương pháp mã hóa theo chủ đề đã được sử dụng, dựa trên khung khái niệm giao thoa tổng hợp cách tiếp cận sinh kế bền vững với các mô hình dựa trên quyền con người. Khung này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích chi tiết, xem xét nhiều trục chồng chéo của sự thiệt thòi, bao gồm giới tính, khuyết tật và sắc tộc.
1. Thảo luận lý thuyết
Nghiên cứu này đặt các Giải pháp dựa vào Thiên nhiên (NbS) trong khuôn khổ nhạy cảm về giới và nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu tình trạng thiếu nước ở An Giang, Việt Nam. NbS là các chiến lược thúc đẩy quản lý, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái bền vững để giải quyết các thách thức xã hội như biến đổi khí hậu và khan hiếm nước [7].
Cách tiếp cận dựa trên quyền con người (HRBA) là nền tảng của nghiên cứu này bằng cách ưu tiên sự tham gia, công bằng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình để đảm bảo các nhóm bị thiệt thòi được tiếp cận bình đẳng với tài nguyên thiên nhiên [5, 9]. Việc áp dụng phân tích giới cho thấy các chuẩn mực xã hội hiện hành và các điểm yếu giao thoa định hình khả năng và hạn chế của phụ nữ trong việc hưởng lợi từ các sáng kiến NbS [2].
Khung sinh kế bền vững cung cấp một lăng kính toàn diện để xem xét cách phụ nữ tiếp cận nhiều hình thức vốn, tự nhiên, xã hội, tài chính và con người, hỗ trợ sinh kế thích ứng và bền vững [1]. Cách tiếp cận tích hợp này đã hướng dẫn thiết kế nghiên cứu, mã hóa dữ liệu và diễn giải chính sách, làm nổi bật các con đường trao quyền cho phụ nữ thông qua các thực tiễn NbS.
Mối liên hệ giữa sinh kế bền vững và giới đặt phụ nữ không phải là nạn nhân thụ động mà là tác nhân then chốt của sự thay đổi. Việc trao quyền cho họ là chìa khóa để thúc đẩy các con đường thích ứng bền vững [8]. NbS cụ thể hóa quan điểm này bằng cách tích hợp phục hồi sinh thái với bình đẳng giới và quản trị toàn diện, nhấn mạnh sự cần thiết phải phá bỏ các rào cản mang tính hệ thống và phát huy tối đa tiềm năng của phụ nữ trong các nỗ lực thích ứng với biến đổi khí hậu như NbS.
2. Kết quả nghiên cứu
a) Biến đổi khí hậu, thách thức về an ninh nguồn nước và gánh nặng ngày càng tăng của phụ nữ
Tỉnh An Giang, nằm ở Đồng bằng sông Cửu Long, phải đối mặt với những tổn thương nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, đe dọa an ninh nguồn nước và sinh kế. Sự phụ thuộc của khu vực vào một hệ thống kênh rạch, trạm bơm và nguồn nước tự nhiên dễ bị tổn thương cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt càng làm tăng thêm tính nhạy cảm của khu vực đối với sự biến đổi khí hậu [10]. Mùa khô khắc nghiệt, lượng mưa thất thường và lũ lụt dữ dội đã làm giảm lượng nước ngọt cần thiết cho sản xuất lúa gạo và nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình. Xâm nhập mặn và hoạt động của các đập thuỷ điện ở thượng nguồn làm suy giảm chất lượng nước và giảm diện tích đất canh tác, ảnh hưởng không cân xứng đến các hộ gia đình nghèo và cộng đồng dân tộc thiểu số, nơi nhiều phụ nữ là người chăm sóc chính và sản xuất lương thực [4, 11].
Các phát hiện chính của nghiên cứu cho thấy biến đổi khí hậu và những thách thức liên quan đến nguồn nước đang tác động mang tính hệ thống và ngày càng phức tạp đối với sinh kế nông nghiệp và thủy sản tại An Giang. Tác động không chỉ dừng lại ở việc giảm năng suất mà còn làm thay đổi toàn bộ chu kỳ sản xuất, từ thời vụ, giống cây trồng đến phương thức canh tác và quản lý rủi ro. Thời tiết diễn biến thất thường với sự đan xen giữa nắng nóng gay gắt, mưa trái mùa, gió bão và dông lốc đã làm gia tăng sâu bệnh, phát sinh các hiện tượng mới khó kiểm soát như giống lúa lạ, đồng thời gây thiệt hại cho hạ tầng và môi trường sống. Đặc thù địa hình đồng bằng xen đồi núi khiến khu vực thường xuyên chịu tác động đồng thời của lũ, hạn hán, xâm nhập mặn và sạt lở, làm gia tăng nguy cơ thiếu nước sinh hoạt, ô nhiễm nguồn nước và bất ổn sản xuất. Mặc dù chính quyền địa phương đã có kế hoạch ứng phó và chủ động phòng ngừa, tính bất thường và cực đoan của khí hậu vẫn khiến một số vụ sản xuất bị ảnh hưởng. Trong bối cảnh đó, các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi chịu rủi ro cao hơn cả về sinh kế, sức khỏe và an ninh lương thực, cho thấy nhu cầu cấp thiết phải có các giải pháp thích ứng dài hạn, dựa vào điều kiện sinh thái và năng lực cộng đồng địa phương.
“Những thách thức về nguồn nước đã ảnh hưởng đến sinh kế (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt cá và nuôi trồng thủy sản) của cộng đồng trong 5-10 năm gần đây như là làm giảm năng suất: Hạn hán, ngập lụt, sâu bệnh gây giảm năng suất cây trồng, vật nuôi; làm thay đổi mùa vụ: Biến đổi khí hậu làm thay đổi chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.” (nam, cán bộ nông nghiệp xã Thoại Sơn, tháng 8/2025).
“Thời tiết nó thay đổi nhiều, vừa mưa, vừa nắng nên lúa nó bị sâu bệnh á. Mới có mấy năm nay à. Ảnh hưởng là sâu bệnh này, bệnh đạo ôn, vàng lá chết cây.” (nam, Khmer, Ấp Srây Skoth, xã Văn Giáo cũ (nay là xã An Cư), huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, tháng 8/2025)
“Hồi trước mưa nhiều hơn, giờ nắng gắt hơn, dông dữ hơn. Mưa thất thường, có khi mấy ngày liền, có khi lâu không mưa. Nhưng lúa ít bị ảnh hưởng, chỉ khi lúa trổ gặp mưa lớn thì sập… Khoảng 9-10 năm nay xuất hiện loại lúa lạ, cao hơn lúa thường, khó diệt. Nó mọc tự nhiên từ đất, không ai biết từ đâu ra… làm lúa chính mất năng suất. Khuyến nông cũng chưa có cách xử lý.” (nam, Phó ấp Srey Scott, xã An Cư, tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
“Mấy năm nay gió bão lớn hơn, gây hư hại nhà cửa. Trong khi đó, lượng mưa thì ít hơn. Trước đây mưa nhiều, còn nay mưa ít nhưng gió lại mạnh.” (nữ, Khmer, Ấp Mằng Rò, xã An Cư, tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
“Ảnh hưởng có nhưng không lớn. Hàng năm xã đều có kế hoạch ứng phó, xây dựng phương án chủ động khi có mưa lớn hay nước lũ… Tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn có vụ Hè Thu bị ảnh hưởng do mưa bất thường.” (nam, cán bộ nông nghiệp xã Thoại Sơn, tháng 8/2025).
“Thoại Sơn có địa hình đặc thù là đồng bằng và đồi núi, nên hàng năm thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai như: lũ, dông lốc, sét, hạn mặn, mưa trái mùa và sạt lở đất bờ kênh rạch… Những hiện tượng như hạn hán, ngập lụt, sâu bệnh gây giảm năng suất cây trồng, vật nuôi… Đối tượng dễ bị tổn thương là trẻ em, người già, phụ nữ.” (nữ, cán bộ nông nghiệp xã Thoại Sơn, tháng 8/2025).
Phụ nữ cho rằng sự thay đổi về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tình trạng lũ không về và khan hiếm nguồn nước, đã làm gián đoạn lịch thời vụ, suy giảm độ phì nhiêu của đất và chất lượng cây trồng, từ đó khiến sinh kế nông nghiệp kém hiệu quả hơn. Những biến động này không chỉ làm giảm thu nhập mà còn gia tăng gánh nặng lao động và chăm sóc gia đình đối với phụ nữ, nhất là trong việc tiếp cận và quản lý nước sinh hoạt, nước sản xuất. Việc thiếu lũ còn kéo theo tình trạng thiếu nước sạch, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của gia đình, qua đó làm trầm trọng thêm những khó khăn kinh tế và xã hội mà phụ nữ đang phải đối mặt.
“Lũ không về khiến cho đất không màu mỡ, phì nhiêu, độ thẩm thấu của đất không cao thì sẽ dẫn tới chất lượng của cây trồng trên mảnh đất đó sẽ cằn cỗi, bị nhiều sâu bệnh, úa vàng, lâu lớn. Sinh kế của người dân gần đây kém đi rõ rệt do lũ không về, chỉ có lũ về thì mới cải thiện phù sa, mang lại những lợi ích đáng kể cho mỗi hộ gia đình trong đó đỡ gánh nặng và áp lực chăm sóc đời sống vật chất tinh thần cho gia đình của người phụ nữ. Thu nhập của phụ nữ cũng bị ảnh hưởng bởi thời tiết rất nhiều, thời tiết thuận lợi các chị có thể đi làm mướn ở nhiều nơi, thời tiết không thuận đi lại khó khăn, phải ở nhà nên không có được thu nhập gì. Lũ không về người dân gặp khó khăn là cạn kiệt nguồn nước. Canh tác nông nghiệp chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới nước sạch. Mùa không có lũ thường thiếu nước sạch dẫn đến một số bệnh da liễu, phụ khoa, v.v. ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống gia đình. Ở những nơi trồng rẫy khi có lũ về sẽ trúng mùa, năng suất cao, không có lũ sẽ kéo theo bệnh dịch, năng suất thấp, kinh tế sẽ suy giảm.” (nữ, Hội Phụ nữ tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Tình trạng thiếu nước sinh hoạt và nước sản xuất tác động trực tiếp, đa chiều đến đời sống của phụ nữ nông thôn Khmer. Trong sinh hoạt hằng ngày, dù có nước máy, chất lượng nước không đảm bảo để uống khiến gia đình phải mua thêm nước uống đóng bình, làm tăng chi phí và gánh nặng quản lý nước mà phụ nữ là người chịu trách nhiệm chính. Nước mưa được hứng trữ bằng lu, chậu nhưng không đủ dùng trong mùa khô, buộc chị phải tiết kiệm, đun sôi nước và phân bổ rất chặt chẽ cho ăn uống, tắm giặt. Trong sản xuất, ruộng lúa nằm ở vùng cao, không có hệ thống tưới hay trữ nước, khiến toàn bộ canh tác phụ thuộc vào mưa. Điều này làm giảm số vụ, năng suất bấp bênh và gia tăng rủi ro mất mùa khi mưa ít. Sự phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết không chỉ làm thu nhập nông nghiệp giảm mà còn kéo theo áp lực kinh tế gia đình, buộc con cái phải đi làm xa, còn phụ nữ ở nhà gánh thêm trách nhiệm chăm sóc cháu và quản lý sinh kế trong điều kiện tài nguyên nước ngày càng khan hiếm.
“Nước ở ruộng thì nước mưa mới có nước làm ruộng, không có mưa là không có nước đâu… làm lúa chỉ làm 1 năm thôi, phụ thuộc hoàn toàn vào trời mưa. Mưa ít làm không được đâu, nó khô, khô queo hết trơn… Nước máy thì để nấu cơm, tắm, giặt đồ chứ uống không được, uống không ngon, có thuốc tẩy. Nên phải mua nước suối uống… Nhà có 5 cái lu hứng nước mưa mà không đủ đâu, mưa thì hứng, hết mưa là thiếu nước… Tiền nước máy một tháng 100 ngàn, thêm nước suối nữa, nhiều tiền chứ… Ở trên này ruộng cao, không có mương, không trữ nước được, không mưa là thôi, không trồng được.” (nữ, Khmer, Ấp Mằng Rò, xã An Cư, tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Ngoài ra, nhiệt độ cực đoan ảnh hưởng xấu đến sức khỏe vật nuôi, nguồn thu nhập và dinh dưỡng quan trọng do phụ nữ quản lý. Thời tiết nắng nóng gia tăng đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chăn nuôi bò của người dân. Bò con bị tiêu chảy do tác động của nhiệt độ cao, trong khi những năm trước chưa xảy ra tình trạng này. Người chăn nuôi phải tự xử lý bằng cách mua thuốc tiêm hoặc cho uống, đồng thời sức khỏe bò mẹ cũng bị ảnh hưởng, dẫn đến giảm thể trạng và làm gián đoạn chu kỳ sinh sản, khiến năm nay chưa có lứa nghé mới để bán.
“Năm nay nắng nóng hơn, bò con bị tiêu chảy hoài à… Năm ngoái đâu có bị.” (nam, Văn Giáo, tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Tình trạng khan hiếm nước ngày càng nghiêm trọng tại các khu vực ngoại vi, thôn hẻo lánh như Văn Râu và Mằng Rò, nơi hệ thống cấp nước và điều tiết nước chưa theo kịp nhu cầu sản xuất. Mặc dù các công trình hạ tầng thủy lợi lớn như kênh Vĩnh Tế, trạm bơm Tha La, Trà Sư hay trạm bơm 3/2 giữ vai trò then chốt trong việc điều tiết nước, nhưng lượng nước về ngày càng ít, vận hành xả nước không hiệu quả và phụ thuộc nhiều vào điều kiện thượng nguồn. Điều này khiến người dân gần như bị động, “chỉ có chờ nước”, không có giải pháp kỹ thuật thay thế khi hạn hán kéo dài. Việc thiếu nước làm gia tăng chi phí sản xuất, gây mâu thuẫn trong lựa chọn xả lũ hay không xả lũ giữa các vùng chuyên canh và đa canh, đồng thời góp phần làm ô nhiễm nước, suy giảm sinh kế thủy sản và mất dần các nghề truyền thống gắn với mùa lũ. Biến đổi khí hậu với nắng nóng nhiều hơn, mưa ít hơn và lũ về muộn và rút nhanh càng làm gia tăng áp lực lên hệ thống hạ tầng nước hiện có, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý nước linh hoạt, có sự đồng thuận cộng đồng và thích ứng sinh kế dài hạn.
“Năm 2023 thì cái mực nước nó lại thấp kỷ lục… mình cũng không hiểu là do khí hậu hay là do nước từ thượng nguồn từ Campuchia đổ về, mình nghe báo đài nói là do họ xây dựng kênh đào gì đó nên lượng nước đổ về đây rất là ít. Điển hình như Tha La với Trà Sư có phát thông báo xả nước rồi đó mà cuối cùng đầm ở dưới đây không có nước luôn, không có được bao nhiêu nước hết trơn. Với cái thứ hai nữa là lượng nước nó ít quá, trời thì nắng nóng nhiều hơn mà mưa lại ít hơn. Nước thiếu thì chỉ có chờ nước chứ cũng không biết khắc phục sao nữa. Những năm trước có chủ trương 3 năm 8 vụ nhưng khi vận động người dân thì họ không chịu, mà thực ra cái đó cũng chỉ là chủ trương thôi, lúc làm phải lấy ý kiến dân, phải đạt 80% thì mới được. Khó là ở chỗ đó. Giờ thiên tai thì xuất hiện nhiều hơn, dông lốc tốc mái nhà dân xảy ra thường xuyên hơn, còn lũ thì lên chậm hơn nhưng rút rất nhanh, chứ không phải như hồi xưa nước ở hai tháng hay hơn. Bây giờ khoảng một tháng là nước rút hết, thành ra cá tôm cũng không còn bao nhiêu, nghề cá cũng mất dần.” (nam, cán bộ thủy lợi xã An Cư, tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Tóm lại, biến đổi khí hậu tại An Giang đang làm trầm trọng thêm tình trạng mất an ninh nguồn nước, gây tác động hệ thống đến sinh kế nông nghiệp, thủy sản và đời sống dân cư, đặc biệt là phụ nữ. Thời tiết ngày càng cực đoan với hạn hán, mưa thất thường, lũ về muộn và rút nhanh, cùng với xâm nhập mặn và tác động từ thượng nguồn đã làm suy giảm chất lượng, số lượng nước, phá vỡ lịch thời vụ, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi và làm gia tăng rủi ro sản xuất. Trong bối cảnh đó, phụ nữ, nhất là phụ nữ nghèo và dân tộc thiểu số phải gánh chịu tác động nặng nề hơn do vừa phụ thuộc sinh kế vào tài nguyên nước, vừa đảm nhiệm vai trò chính trong quản lý nước sinh hoạt, chăm sóc gia đình và duy trì an ninh lương thực. Thiếu nước sinh hoạt và nước sản xuất không chỉ làm tăng chi phí, khối lượng lao động và áp lực chăm sóc mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, thu nhập và chất lượng cuộc sống của phụ nữ, cho thấy nhu cầu cấp thiết về các giải pháp thích ứng dài hạn, quản lý nước linh hoạt và nhạy cảm giới.
b) Vai trò của phụ nữ trong việc thực hiện các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) tại An Giang
Vai trò then chốt của phụ nữ trong việc thực hiện NbS
Phụ nữ ở An Giang giữ vai trò then chốt trong việc triển khai các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) thông qua những sinh kế gắn chặt với hệ sinh thái sông nước và cảnh quan nông thôn. Ở các vùng nông thôn và cộng đồng Khmer, phụ nữ duy trì và phát triển các hoạt động như chế biến thủy sản truyền thống (mắm cá linh, mắm cá lóc) và trồng thốt nốt - một mô hình NbS điển hình vừa mang lại giá trị kinh tế, vừa góp phần bảo vệ cảnh quan, cải thiện khí hậu và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
“Thốt nốt là nơi mọi người làm ruộng xong dựa vào bóng mát ở đó để nghỉ ngơi… Hoa thốt nốt có thể cho nước làm thành đường… lá thốt nốt còn có thể làm tranh” (nữ, Hội Phụ nữ tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Trong các mô hình NbS được tổ chức và hỗ trợ bởi các chương trình phát triển, phụ nữ là lực lượng nòng cốt trong việc kết nối bảo tồn hệ sinh thái với sinh kế địa phương. Tại các xã như An Phú, Tri Tôn và Tịnh Biên, phụ nữ trực tiếp tham gia và làm chủ các mô hình trồng sen, sen xen lúa, dệt thổ cẩm và các hoạt động sinh kế cộng đồng dựa vào tài nguyên thiên nhiên, qua đó vừa tạo thu nhập vừa thích ứng linh hoạt với điều kiện nước theo mùa.
“Các mô hình bảo tồn, phát triển cây sen xen với lúa, các làng dệt thổ cẩm truyền thống đều do người phụ nữ là người làm chủ và trực tiếp sản xuất” (nữ, Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, tháng 8/2025).
Vai trò của phụ nữ trong NbS ngày càng được củng cố cùng với những chuyển dịch trong cơ cấu sinh kế và quản lý tài nguyên. Khi nguồn lợi tự nhiên suy giảm và sản xuất đòi hỏi đầu tư, quản trị và tính toán rủi ro nhiều hơn, phụ nữ ngày càng tham gia sâu vào điều hành, quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp, trở thành tác nhân quan trọng thúc đẩy các giải pháp dựa vào thiên nhiên theo hướng bền vững hơn.
“Giờ vai trò của phụ nữ rất lớn, ngay cả trong điều hành, quản lý. Các HTX giờ cũng có phụ nữ quản lý rồi, phụ nữ làm kế toán nhiều” (nam, cán bộ Sở Nông nghiệp và Môi trường, tháng 8/2025).
Nghề thủ công truyền thống như một hoạt động kinh tế dựa vào thiên nhiên NbS
Nghề thủ công truyền thống ở An Giang, đặc biệt là dệt và nhuộm vải tự nhiên, đang nổi lên như một hoạt động kinh tế dựa vào thiên nhiên (NbS), trong đó phụ nữ giữ vai trò trung tâm. Thông qua việc sử dụng nguyên liệu địa phương như bông, tơ và thuốc nhuộm thực vật phụ thuộc vào nguồn nước sạch, phụ nữ vừa tạo sinh kế ổn định vừa góp phần bảo tồn tri thức bản địa và tài nguyên tự nhiên.
“Nhuộm màu là phải xài nước máy cho sạch, chớ nước giếng không được đâu… mỗi màu phải pha riêng, nước lên nước xuống suốt ngày” (nữ, người dân làm nghề dệt - nhuộm truyền thống, Văn Giáo, An Giang, tháng 8/2025).
Hoạt động dệt thủ công không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều phụ nữ trong cộng đồng. Nghề này đòi hỏi lao động thủ công tỉ mỉ, sử dụng ít máy móc và tận dụng tri thức truyền thống, phù hợp với cách tiếp cận NbS.
“Tháng nào khách đông thì hai chục, còn ít thì ba bốn triệu cũng có… Phải có người dệt, người nhuộm, người phơi, làm một mình sao nổi” (nữ, Khmer, người dân làm nghề dệt, nhuộm truyền thống, Văn Giáo, An Giang, tháng 8/2025).
Điều này cho thấy nghề thủ công góp phần tạo sinh kế cộng đồng, nhất là cho phụ nữ Khmer. Song song đó, việc duy trì sản xuất hoàn toàn thủ công được xem là yếu tố tạo nên giá trị bền vững và sức hút của sản phẩm gắn với thiên nhiên. Phụ nữ địa phương khẳng định sự khác biệt giữa sản xuất thủ công và công nghiệp. Việc giữ gìn quy trình thủ công không chỉ bảo tồn văn hóa mà còn giảm tác động môi trường so với sản xuất công nghiệp.
“Ở đây làm bằng tay không à… người ta khoái hàng làm tay lắm… làm bằng tay nó chắc, nhìn có hồn hơn… hàng mình bền, đẹp hơn, cái này là truyền thống mà” (nữ, Khmer, người dân làm nghề dệt, kéo tơ thủ công, Văn Giáo, An Giang, tháng 8/2025).
Những nỗ lực khôi phục nghề nuôi tằm, kéo tơ và dệt vải truyền thống tiếp tục cho thấy vai trò lãnh đạo và cam kết lâu dài của phụ nữ trong việc kết hợp sinh kế với bảo tồn hệ sinh thái. Dù còn gặp khó khăn về kỹ thuật và nguồn lực, phụ nữ vẫn chủ động học hỏi để duy trì nghề.
“Nhà nước có đầu tư đó… định là sau này nuôi tằm, kéo tơ, dệt lại như hồi xưa luôn… giờ học lại từ đầu” (nữ, Khmer, người dân làm nghề dệt, kéo tơ thủ công, Văn Giáo, An Giang, tháng 8/2025).
Qua đó, nghề thủ công truyền thống không chỉ là nguồn thu nhập mà còn là một giải pháp NbS quan trọng, góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của phụ nữ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy thích ứng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Vai trò lãnh đạo của phụ nữ trong đào tạo và chia sẻ kiến thức NbS
Hội Phụ nữ tỉnh An Giang thể hiện vai trò lãnh đạo rõ nét trong việc chia sẻ kiến thức, hỗ trợ và dẫn dắt cộng đồng phụ nữ thực hiện các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS), đặc biệt trong bối cảnh rủi ro khí hậu gia tăng. Thông qua các hoạt động hướng dẫn vay vốn, theo dõi đời sống hộ nghèo, hộ dễ bị tổn thương và phụ nữ đơn thân, Hội vừa hỗ trợ sinh kế vừa kịp thời ứng phó với các cú sốc thời tiết. Đồng thời, Hội đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến quy định bảo vệ môi trường, khai thác thủy sản bền vững và sản xuất nông nghiệp an toàn, góp phần bảo vệ tài nguyên nước và duy trì sinh kế lâu dài.
“Hội phụ nữ tỉnh có giúp đỡ các chị em phụ nữ nông thôn bằng cách tạo điều kiện hỗ trợ, hướng dẫn các chị vay vốn… thăm và kiểm tra tình hình cuộc sống gia đình của các chị hộ nghèo, hộ dễ bị tổn thương… Muốn phát triển tốt hơn thì phải quản lý lưu lượng phân hóa học, thuốc trừ sâu… hướng dẫn người dân sản xuất thực phẩm an toàn” (nữ, Hội Phụ nữ tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp, phụ nữ không chỉ là người trực tiếp tham gia sản xuất mà còn là tác nhân lan tỏa kiến thức và thực hành bền vững trong gia đình và cộng đồng. Thông qua vận động nuôi cá an toàn, cung cấp con giống sạch và tuân thủ các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP, phụ nữ góp phần thúc đẩy các mô hình sinh kế thích ứng với điều kiện tự nhiên theo mùa nước. Vai trò của họ đặc biệt rõ nét trong mùa lũ, khi vừa tham gia lao động vừa hỗ trợ hậu cần cho hoạt động khai thác thủy sản, đồng thời giữ quyền quyết định cao trong nhiều khâu sản xuất nông nghiệp.
“Các chị em phụ nữ đã ý thức được trách nhiệm và quyền lợi trong sản xuất… vận động gia đình đăng ký nuôi cá không sử dụng các loại kháng chất độc hại… Khi vào mùa lũ… các chị em phụ nữ là người tiếp chồng con đánh bắt thủy sản… trong các khâu cấy, nhổ cỏ thì quyền quyết định của phụ nữ cao hơn” (nam, cán bộ Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, tháng 8/2025).
Nhờ vai trò lãnh đạo và mức độ tham gia ngày càng sâu, phụ nữ và các tổ chức Hội Phụ nữ đang trở thành cầu nối quan trọng trong quản trị thích ứng địa phương, giúp truyền đạt tri thức, củng cố khả năng phục hồi cộng đồng và thúc đẩy việc thực hiện NbS theo hướng bao trùm và bền vững hơn.
c) Những rào cản và bất bình đẳng giới trong sự tham gia của phụ nữ vào các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS).
Mặc dù phụ nữ tại An Giang giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quản lý sinh kế gắn với tài nguyên thiên nhiên, sự tham gia của họ vào các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) vẫn bị giới hạn bởi bất bình đẳng mang tính cấu trúc, đặc biệt là trong quyền sở hữu và kiểm soát tư liệu sản xuất. Việc đất đai và tài sản chủ yếu đứng tên nam giới làm suy giảm vai trò ra quyết định của phụ nữ trong đầu tư dài hạn và triển khai các mô hình thích ứng dựa vào hệ sinh thái.
“Trước kia đời sống phụ thuộc thiên nhiên là chính nên phụ thuộc vào sức mạnh của nam giới… Từ sau năm 2000 thì vai trò của phụ nữ rất lớn, ngay cả trong điều hành, quản lý, và quyết định lớn nhưng đất đai vẫn do người đàn ông đứng tên.” (nam, cán bộ Sở Nông nghiệp và Môi trường, An Giang, tháng 8/2025).
Bất bình đẳng trong tiếp cận tài chính và các nguồn lực hỗ trợ sản xuất tiếp tục làm gia tăng tính dễ tổn thương của phụ nữ trước biến đổi khí hậu, đặc biệt đối với các hộ nghèo và hộ do phụ nữ làm chủ. Phụ nữ thường chỉ tiếp cận được các khoản vay nhỏ, mang tính ngắn hạn, trong khi các mô hình NbS đòi hỏi đầu tư ban đầu và thời gian thu hồi vốn dài hơn.
“Hội phụ nữ tỉnh có giúp đỡ các chị em phụ nữ nông thôn bằng cách hướng dẫn vay vốn để phát triển kinh tế gia đình… nhưng đa số chỉ vay được khoản nhỏ, đủ xoay xở trước mắt thôi, chứ đầu tư lớn thì rất khó.” (nữ, Hội Phụ nữ tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Khoảng cách giới trong tiếp cận thông tin, đào tạo kỹ thuật và các chương trình can thiệp về NbS cũng là một rào cản đáng kể. Mặc dù phụ nữ sở hữu nhiều tri thức bản địa liên quan đến quản lý nước, đất và sinh kế theo mùa, họ lại ít có cơ hội tham gia các lớp tập huấn hay mô hình trình diễn chính thức. Điều này khiến đóng góp của phụ nữ thường không được công nhận đầy đủ trong thiết kế và triển khai NbS.
“Trong các lớp tập huấn, người tham gia đa phần vẫn là nam giới hoặc những hộ sản xuất lớn. Phụ nữ lớn tuổi hoặc phụ nữ bận nhiều việc gia đình thì ít khi đi học kỹ thuật.” (Trung Thu, nữ, cán bộ nông nghiệp xã Thoại Sơn, tháng 8/2025).
Gánh nặng lao động chăm sóc không được trả công tiếp tục hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào các hoạt động cộng đồng và quản trị tài nguyên thiên nhiên. Phụ nữ không chỉ chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc gia đình mà còn gánh vác việc quản lý nước sinh hoạt trong bối cảnh ngày càng khan hiếm. Điều này làm thu hẹp không gian và thời gian để họ tham gia vào các tiến trình ra quyết định liên quan đến NbS.
“Nước mưa phải hứng, nước máy thì không uống được… thiếu nước là lo cho cả nhà. Mùa khô phải tính toán từng chút, nên ở nhà lo hết mấy việc đó, không đi đâu được.” (nữ, Khmer, Ấp Mằng Rò, xã An Cư, tỉnh An Giang, tháng 8/2025).
Mặc dù đối mặt với nhiều rào cản, phụ nữ vẫn là lực lượng thích ứng chủ chốt ở cấp hộ gia đình thông qua các hoạt động sinh kế quy mô nhỏ và dựa vào thiên nhiên. Tuy nhiên, nếu không có sự hỗ trợ thể chế phù hợp, những nỗ lực này khó được cải thiện thành các mô hình NbS bền vững ở quy mô cộng đồng.
3. Kết luận
Nghiên cứu này cho thấy phụ nữ tại An Giang giữ vai trò trung tâm nhưng chưa được nhìn nhận đầy đủ trong việc thực hiện các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu tình trạng thiếu nước. Thông qua các hoạt động sinh kế gắn với hệ sinh thái như nông nghiệp thích ứng theo mùa nước, nuôi trồng và chế biến thủy sản, nghề thủ công truyền thống và quản lý nước sinh hoạt, phụ nữ không chỉ trực tiếp duy trì sinh kế hộ gia đình mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng địa phương.
Các kết quả nghiên cứu thực địa cho thấy biến đổi khí hậu và khan hiếm nước đang tạo ra những tác động mang tính hệ thống đến sản xuất và đời sống, trong đó phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo và phụ nữ dân tộc thiểu số, chịu ảnh hưởng nặng nề hơn do gánh nặng lao động chăm sóc, sự phụ thuộc vào tài nguyên nước và hạn chế trong tiếp cận đất đai, tài chính và thông tin kỹ thuật. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh dễ bị tổn thương này, phụ nữ đã thể hiện năng lực thích ứng cao thông qua việc duy trì các thực hành sinh kế linh hoạt, kế thừa tri thức bản địa và tham gia ngày càng sâu vào quản lý và điều hành các mô hình sản xuất dựa vào thiên nhiên.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các tổ chức địa phương, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ, đóng vai trò then chốt trong việc kết nối tri thức, hỗ trợ sinh kế và thúc đẩy thực hành NbS ở cấp cơ sở. Dù vậy, những rào cản mang tính cấu trúc về giới vẫn hạn chế khả năng mở rộng và thể chế hóa các đóng góp của phụ nữ trong các chương trình thích ứng dựa vào hệ sinh thái.
Từ những phát hiện này, nghiên cứu khẳng định rằng việc tăng cường vai trò, quyền năng và sự tham gia thực chất của phụ nữ là điều kiện thiết yếu để các giải pháp dựa vào thiên nhiên phát huy hiệu quả lâu dài tại An Giang và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Việc tích hợp bình đẳng giới vào thiết kế, triển khai và quản trị NbS không chỉ góp phần nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và tình trạng thiếu nước, mà còn thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững và công bằng xã hội trong bối cảnh biến đổi môi trường ngày càng gia tăng.
4. Hàm ý chính sách
Các phát hiện từ nghiên cứu cho thấy nhiều thực hành sinh kế và quản lý tài nguyên tại An Giang đã mang đặc trưng của các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS), phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý tổng hợp tài nguyên nước của Việt Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, vai trò và đóng góp của phụ nữ trong các thực hành cần được thể chế hóa đầy đủ trong chính sách và chương trình phát triển ở cấp địa phương và vùng như sau:
Thứ nhất, cần lồng ghép bình đẳng giới một cách thực chất vào các chính sách và kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu của tỉnh An Giang, bao gồm kế hoạch phòng chống thiên tai, quản lý tài nguyên nước và tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Mặc dù các văn bản chính sách hiện hành của tỉnh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã nhấn mạnh thích ứng sinh thái và sinh kế bền vững, yếu tố giới chủ yếu mới dừng ở mức nguyên tắc chung, chưa chuyển hóa thành các công cụ triển khai cụ thể. Việc tích hợp đánh giá tác động giới và cơ chế tham gia của phụ nữ trong thiết kế và thực hiện các mô hình NbS sẽ giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chính sách.
Thứ hai, tăng cường khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với đất đai, tín dụng và các nguồn lực hỗ trợ sinh kế thích ứng là điều kiện then chốt để các mô hình NbS phát huy hiệu quả. Điều này phù hợp với Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam. Tại An Giang, cần ưu tiên các cơ chế tài chính và kỹ thuật dành riêng cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số và các hộ do phụ nữ làm chủ, nhằm giúp họ đầu tư dài hạn vào các sinh kế dựa vào hệ sinh thái.
Thứ ba, củng cố vai trò của các tổ chức quần chúng, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ, trong triển khai và giám sát các chương trình NbS. Với mạng lưới sâu rộng từ tỉnh đến cơ sở, Hội Phụ nữ có lợi thế trong việc tiếp cận các nhóm dễ bị tổn thương, phổ biến kiến thức, hỗ trợ sinh kế và phản hồi chính sách. Việc chính thức hóa vai trò của Hội trong các chương trình quản lý nước, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế sẽ góp phần tăng cường tính bao trùm và hiệu quả thực thi chính sách tại địa phương.
Cuối cùng, cần tăng cường liên kết chính sách giữa cấp tỉnh, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và quốc gia trong triển khai NbS nhạy cảm giới. Các sáng kiến thích ứng tại An Giang cần được kết nối chặt chẽ với các định hướng lớn của vùng như chuyển đổi mô hình sinh kế theo điều kiện sinh thái, “thuận thiên” và quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Sự phối hợp này không chỉ giúp tránh chồng chéo chính sách mà còn tạo điều kiện nhân rộng các mô hình NbS do phụ nữ dẫn dắt, đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng dài hạn với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long và Việt Nam.
TS. Phan Thanh Thanh
Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
TS. Thái Huỳnh Phương Lan
Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 50 (12/2025) (Chuyên đề tiếng Anh)
Ghi chú
Bài viết này được thực hiện trong khuôn khổ dự án “Kiến thức về các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) để giải quyết các thách thức về mất an ninh nguồn nước và tình trạng dễ bị tổn thương về mặt xã hội ở lưu vực hạ lưu sông Mê Kông: Các nghiên cứu trường hợp của Campuchia, Thái Lan và Việt Nam”, được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ từ Hiệp hội các Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội Châu Á trong khuôn khổ chương trình Thúc đẩy Khoa học xã hội và đóng góp của Khoa học xã hội cho Cuộc sống tốt đẹp hơn ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương được tài trợ bởi một khoản tài trợ từ Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tê, Ottawa, Canada. Những quan điểm được nêu trong tài liệu này không nhất thiết phản ánh quan điểm của AASSREC, IDRC hoặc Hội đồng quản trị của tổ chức này.
Danh mục tài liệu tham khảo
[1] Chambers, R., & Conway, G. R. (1991). Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the 21st century. IDS Discussion Paper 296.
[2] Cornwall, A., & Gaventa, J. (2001). From users and choosers to makers and shapers: Repositioning participation in social policy. IDS Bulletin, 31(4), 50-62.
[3] Debele, S. E., Leo, L. S., Kumar, P., Sahani, J., Ommer, J., Bucchignani, E., Vranić, S., Kalas, M., Amirzada, Z., Pavlova, I., Shah, M. A. R., Gonzalez-Ollauri, A., & Di Sabatino, S. (2023). Nature-based solutions can help reduce the impact of natural hazards: A global analysis of NBS case studies. Science of The Total Environment, 902, 165824. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2023.165824.
[4] Eldardiry, H., Mahto, S. S., Fatichi, S., & Galelli, S. (2025). VIC-Res Mekong: An open-source hydrological-water management model for the Mekong River basin. Environmental Modelling & Software, 106603.
[5] Filmer-Wilson, E. (2005). The human rights-based approach to development: The right to water. Netherlands Quarterly of Human Rights, 23(2), 213-241.
[6] Galtung, J. (1969). Violence, peace, and peace research. Journal of Peace Research, 6(3), 167-191.
[7] Hicks, C., et al. (2022). Principles for nature-based solutions in conservation and development. Nature Sustainability, 5, 1-7.
[8] Kabir, K., Knierim, A., & Chowdhury, A. (2021). No forest, no dispute: Rights-based approach to participatory forest management in Bangladesh. Journal of Environmental Planning and Management, 64(1), 22-46.
[9] Laban, P. (2007). Accountability and rights in rights-based approaches for local water governance. International Journal of Water Resources Development, 23(2), 355-367.
[10] Mekong River Commission. (2022). Proceedings of the 1st ASEAN-MRC Water Security Dialogue: Solutions for a Changing Region. Vientiane: MRC Secretariat. https://doi.org/10.52107/mrc.ajutqy
[11] United Nations Environment Programme (2022). Nature-based Solutions: Opportunities and Challenges for Scaling Up. Nairobi.