Bảo đảm quyền của lao động nữ trong các khu công nghiệp là yêu cầu tất yếu của phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thể hiện tiến bộ và bình đẳng giới. Ở Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung - nơi công nghiệp hóa diễn ra mạnh và lao động nữ chiếm tỷ lệ lớn - vấn đề này mang ý nghĩa cả kinh tế lẫn xã hội. Bài viết phân tích tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội như đặc trưng văn hóa vùng, trình độ và nhận thức pháp luật, di cư lao động, môi trường văn hóa doanh nghiệp và chính sách văn hóa xã hội của chính quyền địa phương đến việc bảo đảm quyền của lao động nữ, qua đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền này trong các khu công nghiệp tại vùng này hiện nay.

Ảnh minh họa. Nguồn: laodongdoanthe.vn
Đặt vấn đề
Sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN) ở Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung đã mở ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động nữ - lực lượng chiếm tỷ lệ lớn trong sản xuất công nghiệp. Mặc dù vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ - về thu nhập, điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến và chăm sóc sức khỏe - vẫn chưa được bảo đảm đầy đủ. Các yếu tố văn hóa - xã hội có ảnh hưởng đáng kể tới việc bảo đảm những quyền đó. Vì vậy, việc phân tích tác động của nhóm yếu tố này có ý nghĩa thực tiễn, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao hiệu quả thực thi quyền của lao động nữ trong các KCN tại vùng.
1. Khái quát tình hình lao động nữ và các khu công nghiệp Vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung ở Việt Nam
Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung là địa bàn có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh của khu vực miền Trung cũng như toàn quốc1. Vùng được kỳ vọng trở thành trung tâm kinh tế biển vững mạnh, là khu vực có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh. Các KCN tại vùng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi tỉnh, địa phương nói riêng và khu vực toàn miền Trung nói chung. Vùng có 4 khu kinh tế ven biển (cả nước có 17 khu kinh tế ven biển), 1 khu công nghệ cao Đà Nẵng (cả nước có 3 khu công nghệ cao) và 19 KCN (nằm ngoài các khu kinh tế) đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập, triển khai thực hiện và đang kêu gọi đầu tư (cả nước có 326 KCN)2. Hiện nay, lao động nữ đang làm việc tại các KCN chiếm khoảng 60% tổng số lao động, chủ yếu ở độ tuổi 25 - 403. Đa số lao động nữ xuất thân từ nông thôn, trình độ học vấn trung bình, kỹ năng nghề còn hạn chế. Họ có ý thức kỷ luật lao động tương đối cao, thích nghi khá nhanh với môi trường công nghiệp, song thu nhập thấp, ít có cơ hội thăng tiến. Các vấn đề như nhà ở công nhân, nhà trẻ, cơ sở y tế trong và quanh KCN còn thiếu, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và khả năng gắn bó lâu dài của lao động nữ trong các KCN tại vùng.
2. Tác động của yếu tố văn hóa - xã hội đến việc bảo đảm quyền của lao động nữ tại nơi làm việc trong các khu công nghiệp Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung
Yếu tố văn hóa - xã hội là hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội, có vai trò định hình quan niệm về giới và ảnh hưởng sâu sắc đến việc thụ hưởng quyền lợi của lao động nữ. Tại các KCN thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, nhóm yếu tố này chi phối mạnh mẽ cách thức các quyền lợi được thực thi, đồng thời đặt ra những thách thức lớn đối với việc bảo đảm quyền lao động và cơ hội việc làm bình đẳng cho nữ giới.
Một là, đặc trưng văn hóa vùng miền Trung - nơi con người nổi tiếng với tinh thần cần cù, sáng tạo, ý thức tự chủ và tinh thần đoàn kết đã góp phần hình thành tác phong lao động chăm chỉ, trách nhiệm và gắn bó trong môi trường công nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị tích cực đó, văn hóa truyền thống Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” và mô hình gia đình phụ hệ, dẫn đến nhận thức xã hội về vai trò của lao động nữ còn hạn chế. Ở nhiều địa phương, phụ nữ dù chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động tại các KCN nhưng vẫn bị xem là lao động “phụ”, ít có cơ hội được đào tạo, thăng tiến hoặc tham gia tổ chức đại diện. Do đó, có thể thấy đặc trưng vùng vừa là động lực tích cực thúc đẩy tinh thần lao động và gắn kết cộng đồng, vừa chịu tác động của các chuẩn mực xã hội truyền thống, tạo thách thức trong việc xóa bỏ định kiến giới và bảo đảm quyền của lao động nữ trong quá trình công nghiệp hóa.
Hai là, mức độ phát triển xã hội và trình độ dân trí, học vấn của lao động nữ tại các KCN ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi quyền lao động. Phần lớn lao động nữ trong các KCN Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung xuất thân từ nông thôn, trình độ học vấn chủ yếu ở bậc phổ thông, ít có cơ hội tiếp cận thông tin pháp luật, đặc biệt là về quyền lao động và bình đẳng giới. Do đó, họ thường gặp khó khăn trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung có dân số khoảng 6,7 triệu người, với mật độ dân số đạt 239 người/km², chiếm khoảng 7,4% dân số cả nước, đứng thứ ba trong bốn vùng Kinh tế trọng điểm của Việt Nam4. Với nguồn nhân lực dồi dào, tốc độ gia tăng lao động nhanh, vùng có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra sức ép lớn về chất lượng lao động và vấn đề giải quyết việc làm bền vững, đặc biệt là với lao động nữ - nhóm dễ bị tổn thương do hạn chế về trình độ, kỹ năng nghề và khả năng tiếp cận thông tin pháp luật. Thực tế cho thấy, mặc dù tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ trong các KCN khá cao, song phần lớn tập trung ở các vị trí giản đơn, có thu nhập thấp và ít cơ hội thăng tiến, phản ánh những hạn chế của nguồn nhân lực và sự bất bình đẳng trong cơ hội nghề nghiệp.
Đánh giá chung về nguồn nhân lực Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung cho thấy, “tỷ lệ lao động có kỹ năng, tay nghề cao còn thấp”, mới chỉ “đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp ở mức hạn chế”4. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của người lao động mà còn làm giảm năng lực thương lượng, khả năng nâng cao vị thế và thực thi quyền của lao động nữ trong quan hệ lao động. Thực tế cho thấy, tại nhiều KCN, việc thực hiện các chế độ, chính sách dành cho lao động nữ còn tùy tiện, như trong bố trí việc làm, sắp xếp giờ nghỉ, làm thêm giờ hay thực hiện chế độ thai sản. Hệ quả là không ít lao động nữ bị vi phạm quyền mà không nhận biết hoặc không biết cách khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động ở nhiều KCN vẫn còn mang tính hình thức, chưa gắn với đặc điểm văn hóa - xã hội của người lao động, nên chưa tạo được chuyển biến thực chất trong nhận thức và hành động.
Bên cạnh hạn chế về trình độ và kỹ năng, môi trường làm việc và sinh hoạt cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và điều kiện lao động của phụ nữ. Các KCN và cụm công nghiệp tại Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung mặc dù là động lực phát triển kinh tế, nhưng đi kèm áp lực về ô nhiễm môi trường, tiếng ồn và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, hạ tầng về xử lý nước thải và khí thải xuống cấp6 khiến lao động nữ dễ gặp các vấn đề về sức khỏe, tinh thần và khó cân bằng giữa công việc và gia đình. Những điều kiện này hạn chế khả năng tham gia đầy đủ vào các quyền lợi lao động và làm giảm động lực gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Do đó, việc quan tâm đến môi trường làm việc an toàn, thiết chế văn hóa - xã hội và phúc lợi cho lao động nữ là yếu tố cần thiết để bảo đảm quyền và nâng cao chất lượng sống của họ.
Ba là, quá trình công nghiệp hóa và hình thành lối sống đô thị - công nghiệp Vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung đã và đang tạo ra nhiều thách thức mới đối với quyền của lao động nữ. Làn sóng di cư lao động, đặc biệt là lao động nữ trẻ từ nông thôn vào làm việc trong các KCN, khiến họ phải thích nghi với môi trường sống và làm việc hoàn toàn mới, xa gia đình và thiếu các thiết chế văn hóa, phúc lợi thiết yếu như nhà trẻ, khu sinh hoạt cộng đồng, dịch vụ tư vấn tâm lý, pháp lý... Điều này khiến nhiều lao động nữ dễ rơi vào tình trạng căng thẳng, tổn thương về tinh thần, sức khỏe sinh sản và gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình. Nếu những vấn đề xã hội này không được quan tâm và hỗ trợ kịp thời, chúng sẽ làm giảm khả năng gắn bó và tham gia bền vững của lao động nữ trong lực lượng lao động công nghiệp hiện nay.
Bốn là, môi trường văn hóa doanh nghiệp trong các KCN là một yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến việc bảo đảm quyền của lao động nữ. Ở doanh nghiệp nào mà mô hình quản trị mang tính gia trưởng hoặc quá coi trọng năng suất có thể dẫn đến việc xem nhẹ phúc lợi và nhu cầu giới của lao động nữ. Ngược lại, những doanh nghiệp chú trọng xây dựng văn hóa tôn trọng nhân phẩm, quan tâm đến chính sách thai sản, nuôi con nhỏ, phòng chống quấy rối tình dục và chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quyền của lao động nữ. Do đó, văn hóa doanh nghiệp - với tư cách là một tiểu hệ giá trị trong tổng thể văn hóa xã hội có vai trò then chốt trong việc hình thành môi trường làm việc nhân văn, an toàn và bình đẳng giới. Trong bối cảnh đời sống vật chất còn khó khăn, cường độ lao động cao và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của công nhân còn hạn chế, việc xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp lành mạnh càng trở nên cần thiết để ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, tạo động lực và gắn kết cho lao động nữ trong quá trình làm việc.
Năm là, chính sách văn hóa - xã hội của chính quyền địa phương có tác động trực tiếp đến việc bảo đảm quyền và điều kiện làm việc của lao động nữ trong các KCN. Ở những địa phương chú trọng xây dựng “văn hóa công nhân”, phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, nhà ở xã hội và dịch vụ công cộng dành cho người lao động, phụ nữ có điều kiện thuận lợi hơn để ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực và tham gia các tổ chức đại diện, qua đó thực thi quyền của mình hiệu quả hơn. Ngược lại, tại các nơi thiếu thiết chế văn hóa - xã hội phù hợp, quyền lợi chính đáng của lao động nữ thường bị xem nhẹ, dễ bị xâm phạm mà không có cơ chế bảo vệ hiệu quả. Trong bối cảnh phần lớn lao động nữ tại các KCN Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung vẫn đang gặp khó khăn về chỗ ở và phúc lợi xã hội, việc đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, cùng với các thiết chế văn hóa, thể thao và dịch vụ công cộng, là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng đời sống và bảo đảm quyền lợi lâu dài cho họ.
3. Biện pháp phát huy yếu tố văn hóa - xã hội nhằm bảo đảm quyền của lao động nữ trong các khu công nghiệp Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung
Thứ nhất, nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới và vai trò của lao động nữ.
Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến giới và quan niệm truyền thống lạc hậu. Việc nâng cao nhận thức phải được thực hiện thường xuyên, linh hoạt, đa dạng về hình thức, kết hợp giữa truyền thông đại chúng với các hoạt động văn hóa, tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề tại KCN.
Đồng thời, cần lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, các phong trào thi đua yêu nước, qua đó xây dựng hình ảnh người lao động nữ hiện đại, tự tin, sáng tạo và có trách nhiệm.
Chính quyền địa phương cần chủ động phối hợp với các tổ chức công đoàn, hội phụ nữ và doanh nghiệp để triển khai các chương trình giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới tại nơi làm việc, gắn với xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, tôn trọng nhân phẩm và cơ hội phát triển của phụ nữ. Doanh nghiệp cần coi bình đẳng giới là một giá trị văn hóa cốt lõi, thể hiện trong quy tắc ứng xử, chính sách nhân sự và hoạt động nội bộ, góp phần lan tỏa tinh thần tôn trọng, đồng hành và phát huy vai trò của lao động nữ trong sự phát triển bền vững của Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung.
Thứ hai, xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp thân thiện, tôn trọng lao động nữ.
Xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp thân thiện, nhân văn và tôn trọng phụ nữ là yếu tố then chốt trong bảo đảm quyền của lao động nữ tại nơi làm việc trong các KCN Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung. Một môi trường làm việc có văn hóa không chỉ thể hiện ở việc tuân thủ pháp luật lao động, mà còn ở thái độ ứng xử công bằng, tôn trọng nhân phẩm và khuyến khích phụ nữ phát huy năng lực, sáng tạo.
Cần ban hành và thực thi nghiêm túc các quy tắc ứng xử văn minh, không phân biệt giới, phòng ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc, đồng thời xây dựng văn hóa hợp tác, sẻ chia và đoàn kết giữa các nhóm lao động. Cùng với đó, cần đầu tư, nâng cấp hạ tầng và cải thiện môi trường làm việc, giảm ô nhiễm, tiếng ồn, đồng thời thiết kế các khu vực nghỉ ngơi, sinh hoạt và phúc lợi phù hợp với đặc thù giới, như phòng nghỉ, khu vệ sinh riêng, nhà trẻ hoặc hỗ trợ chăm sóc con nhỏ.
Ngoài ra, việc khuyến khích lao động nữ tham gia vào các vị trí quản lý không chỉ góp phần khẳng định vai trò và tiếng nói của phụ nữ, mà còn giúp lan tỏa các giá trị bình đẳng và nhân văn trong môi trường làm việc. Một môi trường doanh nghiệp coi trọng văn hóa và bình đẳng giới sẽ giúp lao động nữ cảm thấy được ghi nhận, có động lực gắn bó và cống hiến, từ đó nâng cao năng suất, củng cố hình ảnh KCN phát triển bền vững và có trách nhiệm xã hội.
Thứ ba, tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn và các thiết chế xã hội.
Đây là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm và phát huy quyền, lợi ích hợp pháp của lao động nữ trong các KCN thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung. Công đoàn là tổ chức đại diện trực tiếp cho người lao động, giữ vai trò then chốt trong việc bảo vệ quyền lợi, giám sát việc thực thi chính sách lao động, đặc biệt đối với lao động nữ - nhóm dễ bị tổn thương trong môi trường sản xuất công nghiệp.
Để phát huy hiệu quả vai trò này, cần nâng cao năng lực, tính chủ động và bản lĩnh thương lượng của công đoàn cơ sở, nhất là trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của lao động nữ và kịp thời phản ánh đến người sử dụng lao động. Công đoàn cần chủ động đối thoại, thương lượng để bảo đảm thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách liên quan đến thai sản, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động và bình đẳng giới.
Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp giữa công đoàn với các thiết chế xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, trung tâm văn hóa công nhân... nhằm tổ chức các hoạt động tuyên truyền, tư vấn pháp luật, bồi dưỡng kỹ năng sống và chăm lo đời sống tinh thần cho lao động nữ. Khi các tổ chức này cùng phát huy vai trò hỗ trợ và đồng hành, lao động nữ sẽ có thêm điểm tựa vững chắc trong việc thực hiện quyền của mình.
Việc củng cố và phát huy vai trò của công đoàn cùng các thiết chế xã hội không chỉ góp phần bảo vệ và nâng cao vị thế của lao động nữ, mà còn thúc đẩy xây dựng môi trường làm việc văn minh, đoàn kết, nhân văn, qua đó tăng chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm sự phát triển bền vững của các KCN cũng như toàn Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung.
Thứ tư, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa - tinh thần cho lao động nữ.
Việc quan tâm, chăm lo đời sống văn hóa - tinh thần không chỉ giúp họ giảm bớt căng thẳng, cân bằng tâm lý mà còn góp phần duy trì sức khỏe, nâng cao năng suất lao động và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Để thực hiện hiệu quả, các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức công đoàn và doanh nghiệp cần phối hợp xây dựng và phát huy hệ thống thiết chế văn hóa công nhân như nhà văn hóa, khu thể thao, thư viện, khu sinh hoạt cộng đồng… nhằm tạo không gian giao lưu, rèn luyện, giải trí và phát triển kỹ năng sống. Cùng với đó, cần đẩy mạnh các chương trình tư vấn tâm lý, chăm sóc sức khỏe sinh sản, giáo dục kỹ năng cân bằng giữa công việc và cuộc sống, giúp lao động nữ tự tin, chủ động và thích ứng tốt hơn với môi trường công nghiệp hiện đại.
Doanh nghiệp cũng nên tổ chức các phong trào thi đua, hoạt động xã hội, chương trình tôn vinh lao động nữ tiêu biểu, qua đó ghi nhận và khẳng định năng lực, vai trò, đóng góp của phụ nữ trong phát triển sản xuất.
Việc nâng cao chất lượng đời sống văn hóa - tinh thần cho lao động nữ không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân họ, mà còn góp phần xây dựng môi trường làm việc nhân văn, hài hòa, thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển bền vững của các KCN cũng như toàn Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung.
4.Kết luận
Bảo đảm quyền của lao động nữ trong các KCN không chỉ là mục tiêu riêng của chính sách lao động, mà còn là nội dung cốt lõi trong chiến lược phát triển con người và xây dựng văn hóa phát triển bền vững ở Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, việc nhận diện và phát huy vai trò của các yếu tố văn hóa - xã hội càng trở nên cần thiết để bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và con người. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong việc hình thành môi trường văn hóa công nghiệp hiện đại, nhân văn và bình đẳng giới. Hơn thế, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cách thức lồng ghép yếu tố văn hóa vào chính sách lao động, nhằm hướng tới mục tiêu không chỉ “bảo đảm quyền” mà còn “nâng cao giá trị” của lao động nữ trong tiến trình phát triển bền vững của vùng và cả nước./.
ThS. Ngô Tuấn Vinh
Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 51 (12/2026)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) Lê Quân (2025), Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung trong kỷ nguyên mới của đất nước, https://tapchicongsan.org.vn/2018/1102503/phuong-huong-giai-phap-nguon-nhan-luc-vktd-mien-trung.aspx, ngày 06/7/2025.
(2) Huỳnh Huy Hòa (2020), Phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung: Thực trạng và khuyến nghị chính sách, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-cua-dang/-/2018/825117/view_content.
(3) Nhật Dương (2024), 60% lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất là nữ, https://vneconomy.vn/60-lao-dong-dang-lam-viec-tai-cac-khu-cong-nghiep-khu-che-xuat-la-nu.htm?utm_source=chatgpt.com, 19/12/2024.
(4) Tổng cục Thống kê (2024), Số liệu kinh tế - xã hội các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2010-2023, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, tr.9.
(5) Lê Quân (2025), Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung trong kỷ nguyên mới của đất nước, https://tapchicongsan.org.vn/2018/1102503/phuong-huong-giai-phap-nguon-nhan-luc-vktd-mien-trung.aspx, ngày 06/7/2025.
(6) Nguyễn Thị Bích Nguyệt (2023), Hiện trạng và giải pháp bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, https://tapchimoitruong.vn/xxx/phap-luat--chinh-sach-16/hien-trang-va-giai-phap-bao-ve-moi-truong-tai-cac-khu-cong-nghiep-vung-kinh-te-trong-diem-mien-trung-28698, ngày 26/6/2023.