Bài viết nghiên cứu về nhận thức chung về quyền trẻ em, sự cần thiết phải bảo đảm quyền trẻ em trong cải cách và thực thi pháp luật, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm bảo đảm tốt hơn quyền trẻ em trong cải cách pháp luật theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW.

Học sinh điểm trường mầm non Cáo Phìn - Trường mầm non Thèn Chu Phìn,
xã Thèn Chu Phìn, huyện Hoàng Su phì, tỉnh Hà Giang. Nguồn: baochinhphu.vn
1. Nhận thức chung về quyền trẻ em
Trẻ em theo pháp luật của Việt Nam được hiểu là người dưới 16 tuổi1. Trẻ em là nhóm chủ thể đặc biệt, từ lâu đã được xem là một nhóm xã hội dễ bị tổn thương do đặc điểm còn non nớt về thể chất và trí tuệ. Trên thế giới, vấn đề về quyền trẻ em đã bắt đầu được quan tâm từ thời cổ đại, nhưng cuộc đấu tranh cho quyền trẻ em chỉ trở nên mạnh mẽ từ đầu thế kỷ XX2. Sự xuất hiện của thuật ngữ “quyền trẻ em” gắn liền với sự ra đời của Tuyên ngôn Geneva về quyền trẻ em năm 1924. Trong đó, Tuyên ngôn Giơnevơ có đề cập đến một số quyền cơ bản của trẻ em nhưng không định nghĩa thế nào là quyền trẻ em.
Khái niệm quyền con người được Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người đưa ra là những bảo đảm pháp lý toàn cầu nhằm bảo vệ các cá nhân và các nhóm khỏi những hành động chống lại và sự bỏ mặc xâm hại tự do cơ bản, sự được phép và phẩm giá của con người3. Với tư cách là một nhóm chủ thể đặc biệt, quyền trẻ em được hiểu là quyền con người của trẻ em. Theo đó, quyền trẻ em được hiểu là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ trẻ em khỏi những hành động chống lại sự xâm phạm và bỏ mặc làm tổn hại đến quyền tự do cơ bản, sự được phép và nhân phẩm của trẻ em. Trẻ em là nhóm chủ thể còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt4. Do đặc điểm này, trẻ em có thể chưa có khả năng tự mình thực hiện được các quyền và tự do chính đáng của mình. Vì vậy, trẻ em vừa phải được hưởng thụ các quyền con người cơ bản, vừa phải được thụ hưởng các nhu cầu đặc thù5, và quyền trẻ em phải được tiếp cận dưới góc độ là những khả năng trẻ em được thụ hưởng mà không phải là những khả năng trẻ em được thực hiện để đáp ứng lợi ích của mình. Những quyền này nhằm đảm bảo cho trẻ em có thể phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, tiếp cận và thụ hưởng các quyền và tự do chính đáng, đồng thời chống lại các hành vi bỏ mặc hoặc xâm phạm các quyền của trẻ em.
Một thời gian dài trước đây, ở tất cả các xã hội, việc bảo vệ trẻ em về cơ bản xuất phát từ các góc độ tình thương, lòng nhân đạo hoặc/và sự che chở chứ không phải dưới góc độ bảo vệ quyền. Do vậy, việc bảo vệ trẻ em ở thời kỳ trước chưa mang tính phổ biến, thống nhất, quy chuẩn và ràng buộc nghĩa vụ đối với mọi đối tượng trong xã hội6. Cuộc đấu tranh cho quyền trẻ em đầu thế kỷ XX đã đánh dấu sự thay đổi nhận thức của các quốc gia, các nhà lập pháp về tiếp cận quyền trẻ em, chuyển cách tiếp cận quyền trẻ em từ tiếp cận nhân đạo sang tiếp cận dựa trên quyền. Tiếp cận dựa trên quyền trẻ em là phương pháp tiếp cận bảo đảm các quyền con người cụ thể theo hướng cân bằng ở hai yếu tố: nội dung quyền và cách thức thực thi quyền7. Tiếp cận dựa trên quyền con người nói chung, tiếp cận dựa trên quyền trẻ em nói riêng là phương pháp tiếp cận phù hợp trong xây dựng pháp luật về quyền trẻ em hiện nay. Theo đó, các nguyên tắc tiếp cận dựa trên quyền trẻ em được xác định bao gồm: (i) Trẻ em được xem là chủ thể của quyền thay vì xem trẻ em là đối tượng của quyền; (ii) Không phân biệt đối xử giữa trẻ em với nhau dựa vào dân tộc, tôn giáo, giới tính hay bất kỳ đặc điểm nhân thân, xuất thân nào của trẻ em; (iii) Nhà nước và các chủ thể khác phải lấy lợi ích của trẻ em làm mục tiêu hàng đầu và (iv) Tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em.
Pháp luật về quyền trẻ em là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác lập, thực thi và bảo vệ quyền của trẻ em. Các quy phạm pháp luật này không phải chỉ được thể hiện trong một văn bản pháp luật duy nhất mà có thể được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
2. Sự cần thiết bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng và cải cách pháp luật
Ở Việt Nam, ngay từ các cổ luật phong kiến, vấn đề quyền trẻ em đã được đặt ra, như tại Quốc triều hình luật, Bộ luật Hồng Đức, trong đó có quy định về trách nhiệm của dân chúng, quan lại địa phương trong việc giúp đỡ trẻ em tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa hay quy định về tội gian dâm với trẻ em gái, tội buôn bán trẻ em, quy định giảm án hoặc hoãn thi hành án đối với phụ nữ có thai, đang nuôi con nhỏ. Khi nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, trong văn bản pháp lý quan trọng nhất của mình, Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận quyền được giáo dưỡng của trẻ em tại Điều 14. Năm 1989, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC 1989) được thông qua. Ngay sau đó, năm 1990, Việt Nam trở thành thành viên của CRC 1989, là thành viên đầu tiên của châu Á và là thành viên thứ hai trên thế giới phê chuẩn CRC 1989. Hiện nay, quyền trẻ em ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Trong giai đoạn tạo đà cho việc xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới xác định đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật nói chung, pháp luật về trẻ em ở Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Nghị quyết xác định: “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỳ nguyên mới; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng”8. Với quan điểm chỉ đạo đó, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật trên mọi lĩnh vực ở Việt Nam đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của đất nước trên cơ sở bảo đảm và bảo vệ tốt nhất quyền con người. Phấn đấu năm 2045, Việt Nam có một “hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân...”9. Để đạt mục tiêu này, lĩnh vực pháp luật về quyền trẻ em cũng cần phải được cải cách nhằm ghi nhận và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền trẻ em ở Việt Nam.
Sự cần thiết bảo đảm quyền trẻ em trong đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới theo Nghị quyết số 66-NQ/TW còn xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ nghĩa vụ nội luật hoá quyền trẻ em theo các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Thừa nhận quyền con người, quyền trẻ em là giá trị phổ quát của toàn nhân loại, hiện nay Việt Nam đã tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Về quyền trẻ em, Việt Nam đang là thành viên của các văn bản pháp lý quốc tế về quyền trẻ em bao gồm: Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (CRC 1989), hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho CRC 1989 gồm: Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 và Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em về việc lôi cuốn trẻ em tham gia xung đột vũ trang năm 2000; Công ước số 182 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999; Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu được đi làm việc năm 1973.
Nội luật hoá các quyền con người, quyền trẻ em được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế là nghĩa vụ của các thành viên công ước quốc tế10 (trong trường hợp này là các văn bản pháp lý quốc tế về quyền trẻ em) theo nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện điều ước quốc tế11. Nội luật hoá được hiểu theo nghĩa chung nhất là việc chuyển hoá nội dung của các điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật của quốc gia thành viên12. Nghĩa vụ nội luật hoá quyền trẻ em trong các văn bản pháp lý quốc tế vào pháp luật quốc gia ở Việt Nam là nghĩa vụ bắt buộc của Việt Nam trong cải cách pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW nhằm bảo đảm cam kết về việc ghi nhận và thực thi các quyền trẻ em theo CRC 1989.
Thứ hai, xuất phát từ lý do trẻ em là chủ thể còn non nớt về thể chất và trí tuệ nên cần được chú trọng đặc biệt. Mặc dù, các văn bản pháp lý về quyền con người đều khẳng định nguyên tắc bình đẳng về tiếp cận, thụ hưởng quyền giữa các cá nhân, song khác với người trưởng thành, trẻ em là những chủ thể còn non nớt về thể chất và trí tuệ, là những cá nhân đang trong giai đoạn phát triển đầu đời. Ở giai đoạn này, trẻ em chưa có khả năng để tự mình thực hiện hết các quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế, do đó, trẻ em cần cơ chế hỗ trợ đặc biệt để trẻ có thể thụ hưởng các quyền của mình cũng như chống lại các hành vi xâm phạm quyền trẻ em. Bảo đảm quyền trẻ em trong công tác cải cách xây dựng và thực thi pháp luật về quyền trẻ em chính là bảo đảm pháp lý cho việc thực thi các quyền trẻ em trên thực tế, góp phần bảo đảm quyền con người theo mục tiêu của Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Thứ ba, xuất phát từ lý do trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước. Bảo đảm, bảo vệ quyền trẻ em chính là bảo vệ cho tương lai của loài người, là ý tưởng cho việc xây dựng CRC 198913 cũng như xây dựng pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam. Cải cách pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt mục tiêu năm 2045 Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người. Trong đó, quyền trẻ em phải được đặt ở vị trí trung tâm của quyền con người bên cạnh các quyền khác. Bảo đảm quyền trẻ em chính là tạo mọi điều kiện để trẻ em được thụ hưởng các quyền trẻ em một cách tối đa, được phát triển trong môi trường tốt nhất, để trẻ em được phát huy hết năng lực của mình, chống lại các hành vi bỏ mặc hoặc xâm hại quyền trẻ em.
3. Một số khuyến nghị bảo đảm quyền trẻ em trong cải cách pháp luật theo NQ số 66-NQ/TW
Hiện nay, ghi nhận và bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng vừa là động lực vừa là mục tiêu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, được khẳng định trong Nghị quyết số 66-NQ/TW. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, khung khổ pháp lý bảo đảm quyền trẻ em được ghi nhận ở trong các văn bản pháp luật, trong đó Luật Trẻ em năm 2016 là văn bản quy định toàn diện nhất về quyền trẻ em. So với Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Trẻ em năm 2016 đã thể hiện cách tiếp cận rộng hơn các nội dung về quyền trẻ em, đồng thời phạm vi áp dụng của hầu hết các điều khoản cũng đã được mở rộng14. Điều này thể hiện quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là dặt con người ở vị trí trung tâm của các chính sách kinh tế, xã hội, trong đó thúc đẩy và bảo vệ quyền con người được xem là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước15. Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc cải cách mạnh mẽ ở Việt Nam hiện nay, để đạt được mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, ghi nhận và bảo vệ có hiệu quả quyền con người, quyền công dân theo Nghị quyết số 66-NQ/TW, nhằm bảo đảm tốt hơn quyền trẻ em thì pháp luật về quyền trẻ em cần phải có những sửa đổi nhất định.
Thứ nhất, việc xây dựng, thực thi pháp luật về trẻ em cần bảo đảm sự thống nhất trong cách tiếp cận.
Trong lịch sử phát triển của pháp luật về quyền trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam đã tồn tại nhiều cách tiếp cận về quyền trẻ em: cách tiếp cận dưới góc độ tình thương và lòng nhân đạo, cách tiếp cận dưới góc độ quyền con người, cách tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em16. Trong đó, cách tiếp cận dựa trên tình thương, lòng nhân đạo có nhược điểm là chưa mang tính phổ biến, thống nhất quy chuẩn và ràng buộc mọi đối tượng trong xã hội17. Cách tiếp cận dựa trên quyền con người lại chưa thể hiện cách nhìn nhận trẻ em là nhóm chủ thể đặc biệt do còn non nớt về thể chất và trí tuệ18, do đó thừa nhận quyền của trẻ em bình đẳng với quyền của người trưởng thành.
Tiếp cận dựa trên quyền được hiểu là cách tiếp cận chuyển đổi từ việc tập trung vào việc xác định và đáp ứng nhu cầu sang việc cho phép mọi chủ thể được công nhận và đòi hỏi các quyền con người của mình được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc gia và quốc tế19. Đối với hầu hết các chủ thể, điều này đòi hỏi tăng cường năng lực ứng phó và chịu trách nhiệm của các tổ chức nhà nước và phi chính phủ trong việc bảo vệ, tôn trọng và thực hiện quyền con người, quyền trẻ em, đồng thời các chủ thể có liên quan cần nỗ lực xây dựng năng lực cho các chủ thể của quyền để các chủ thể này có thể đòi hỏi quyền của họ hoặc tạo cơ hội cho họ tự trao quyền cho mình20. Tiếp cận dựa trên quyền là phương pháp tiếp cận được Liên hợp quốc sử dụng để xây dựng CRC 1989 cũng như các văn bản pháp lý quốc tế về quyền trẻ em khác21. Là một quốc gia thành viên của CRC 1989, đồng thời để phù hợp với chính sách nhất quán lấy con người làm trung tâm, bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển của đất nước, phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em phải được áp dụng đồng bộ trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay.
Với cách tiếp cận dựa trên quyền, tức là cách tiếp cận coi trẻ em là chủ thể của quyền và xuất phát từ đó để xây dựng luật, pháp luật về quyền trẻ em cần phải tập trung vào việc lý giải các quyền của trẻ em và bảo đảm cho các quyền đó của trẻ em được tôn trọng và thực hiện. Do đó, pháp luật về quyền trẻ em phải trả lời được các câu hỏi đặt ra là: Trẻ em có những quyền gì? Chúng được phân nhóm ra sao? Điều kiện thực hiện những quyền đó bao gồm những gì? Làm thế nào để thực hiện những quyền đó? Các quyền đó có thể bị vi phạm hay không? Có những dạng vi phạm nào? Làm thế nào để phòng tránh được các vi phạm đó? Khi vi phạm như vậy xảy ra thì cơ chế giải quyết là gì? Những chế tài nào có thể áp dụng? Và điều kiện để áp dụng chế tài là gì22. Khi nhà nước giải quyết được hết những vấn đề này thì vấn đề bảo đảm quyền trẻ em được thực hiện đầy đủ.
Luật Trẻ em năm 2016 được ban hành có mục tiêu tạo khuôn khổ pháp lý với những quy định mới về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em23. Tuy nhiên, theo tác giả Ngô Huy Cương, Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định luật này chỉ áp dụng đối với: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ sở giáo dục, gia đình, công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân), mà không bao gồm trong đó trẻ em. Điều luật dường như thể hiện rằng Luật Trẻ em năm 2016 là một đạo luật quản lý nhà nước về trẻ em và coi trẻ em là đối tượng cần được chăm sóc, bảo vệ hơn là chủ thể của quyền trẻ em24. Điều này cho thấy, mặc dù cách tiếp cận trong bảo đảm quyền trẻ em của Việt Nam rất phù hợp với CRC 1989 nhưng kỹ thuật lập pháp để hiện thực hoá các lý thuyết tiếp cận vào các quy định pháp luật còn chưa chắc chắn dẫn đến nhiều quy định còn chưa hợp lý25.
Thứ hai, cần mở rộng khái niệm trẻ em.
Nhiều quan điểm cho rằng việc Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam quy định độ tuổi để được coi là trẻ em quá thấp26 mặc dù không trái với Công ước của Liên hợp quốc về trẻ em song điều này là chưa hợp lý27. Để đảm bảo tính tương thích với Luật Trẻ em năm 2016, pháp luật có liên quan cũng quy định độ tuổi để được thụ hưởng và bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Trẻ em, dẫn đến chưa bảo vệ hiệu quả quyền trẻ em. Ví dụ, các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hiện hành quy định các tội xâm hại tình dục trẻ em, bao gồm: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145), Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146), Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) chỉ quy định đối tượng tác động (nạn nhân) là người dưới 16 tuổi. Trong khi đó, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn là nhóm người chưa trưởng thành về thể chất và nhận thức trong việc chống lại hành vi xâm hại tình dục và/hoặc quyết định có hoặc không tham gia vào các hoạt động tình dục. Hay nói cách khác nhóm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn là nhóm người cần được bảo vệ với tư cách là trẻ em.
Thứ ba, về cơ cấu và nội dung của pháp luật về quyền trẻ em.
Nhìn vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành có thể thấy, các quy định về quyền trẻ em không chỉ được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016 mà còn được quy định trong rất nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, bao gồm: pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật hành chính, pháp luật đất đai, pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật về hôn nhân và gia đình... Việc quy định các quyền trẻ em và thực thi quyền trẻ em ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau không phải là bất hợp lý song cần phải đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống các quy phạm pháp luật này cả về nội dung và cách tiếp cận.
Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam hiện hành quy định các nguyên tắc chung về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em; nội dung các quyền và bổn phận của trẻ em; các bảo đảm chăm sóc, giáo dục trẻ em; chủ thể, trách nhiệm và các cấp độ, biện pháp bảo vệ trẻ em; các bảo đảm để trẻ em tham gia vào các vấn đề của trẻ em; và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em. Có thể thấy, với yêu cầu một hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và bảo đảm, thực thi có hiệu quả quyền con người, quyền trẻ em theo Nghị quyết số 66-NQ/TW thì đòi hỏi hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính đồng bộ, tính hệ thống, không chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau. Song, quy định của Luật Trẻ em năm 2016 hiện hành có những sự chồng chéo nhất định với quy định của các luật khác có liên quan. Chẳng hạn quy định về bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, bí mật đời sống riêng tư của trẻ em tại Điều 100 Luật Trẻ em năm 2016:
“1. Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm sau đây:
…
2. Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm trong việc phát hiện, tố giác, thông báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em có nguy cơ bị xâm hại hoặc đang bị xâm hại trong và ngoài gia đình.
3. Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em có trách nhiệm lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho trẻ em trong quá trình tố tụng theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, quy định cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm trong việc phát hiện, tố giác, thông báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em có nguy cơ bị xâm hại hoặc đang bị xâm hại trong và ngoài gia đình tại Điều 100 Luật Trẻ em năm 2016 chồng chéo với quy định của Bộ luật Hình sự về tội không tố giác người phạm tội, trong khi lại không quy định chế tài nào đặc biệt đối với hành vi vi phạm trách nhiệm này khác với quy định của Bộ luật Hình sự.
Hay quy định về trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự của trẻ em được quy định tại Điều 101 Luật Trẻ em:
“1. Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trong trường hợp để trẻ em thực hiện giao dịch dân sự trái pháp luật.
2. Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp trẻ em gây thiệt hại cho người khác thì cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định của pháp luật.”
Các quy định này đã được xác lập một cách đầy đủ bởi Bộ luật Dân sự về đại diện theo pháp luật của cá nhân, giám hộ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về quản lý tài sản của con chưa thành niên. Việc Luật Trẻ em tiếp tục quy định vừa thừa vừa thiếu như trên sẽ làm cho các quy định trở nên thiếu chính xác và tạo nên sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật về quyền trẻ em.
Cuối cùng, Luật Trẻ em quy định bổn phận của trẻ em bên cạnh quyền trẻ em dường như là bất hợp lý, bởi trẻ em là chủ thể được xác định chưa có đầy đủ nhận thức về hành vi và hậu quả của hành vi. Song các nhà làm luật lại đặt trách nhiệm quá lớn đối với trẻ em như bổn phận “phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật” (khoản 3 Điều 39 Luật Trẻ em năm 2016) hay các bổn phận mà dường như thuộc về nghĩa vụ của cha mẹ, người chăm sóc trẻ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em như “không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác” (khoản 4 Điều 40 Luật Trẻ em năm 2016) hay “không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân” (khoản 5 Điều 40 Luật Trẻ em năm 2016).
4. Kết luận
Cải cách hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong đó, bảo đảm quyền trẻ em được coi là một trong những mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm đạt mục tiêu ghi nhận, bảo vệ có hiệu quả quyền con người. Trong quá trình cải cách pháp luật theo yêu cầu của Nghị quyết số 66-NQ/TW cần phải đặt yêu cầu bảo đảm quyền trẻ em trong các khâu đánh giá tác động của luật, xây dựng, ban hành pháp luật và thực thi pháp luật. Có như vậy, mới đảm bảo đạt được mục tiêu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị hiện nay./.
ThS. Nguyễn Văn Chiến
Thanh tra tỉnh Nghệ An
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 51 (12/2026)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) Xem Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016.
(2) Márta Benyusz, Anikó Raisz (2024), International children’s rights, Central European Academic Publishing, Miskolc - Budapest, Hungary, p.15.
(3) Nguyên văn: Human rights are universal legal guarantees protecting individuals and groups against actions and omissions that interfere with fundamental freedoms, entitlements and human dignity. Xem, OHCHR (2006), Frequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, p.1.
(4) Liên hợp quốc, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, Lời nói đầu.
(5) Đoàn Thị Tố Uyên (2021), Bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 8/2021, tr. 79.
(6) Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 253.
(7) Nguyễn Anh Đức (2016), Tiếp cận dựa trên quyền con người trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật về quyền của trẻ em ở Việt Nam, trong Vũ Công Giao, Ngô Minh Hương (chủ biên), Tiếp cận dựa trên quyền con người: Lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 213.
(8) Xem Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
(9) Xem Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
(10) Điều 4 CRC 1989 quy định: Các Quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp lập pháp, hành pháp thích hợp và các biện pháp khác để thực hiện những quyền của trẻ em được thừa nhận trong Công ước này. Về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, các Quốc gia thành viên phải thi hành những biện pháp như vậy ở mức độ tối đa theo khả năng sẵn có của mình, và khi cần thiết, trong khuôn khổ hợp tác quốc tế
(11) Xem Điều 26 Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế.
(12) Đinh Ngọc Thắng, Hà Thị Thuý (chủ biên) (2024), Bảo đảm quyền trẻ em: Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam, Nxb. Đại học Vinh, tr.90.
(13) Ngô Huy Cương (2017), Một số bất cập của Luật Trẻ em năm 2016, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13(341), tháng 7/2017, tr. 34.
(14) Đinh Ngọc Thắng, Hà Thị Thuý (chủ biên) (2024), Bảo đảm quyền trẻ em: Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam, tlđd, tr.101.
(15) Nguyễn Văn Tuân (2010), Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên và vấn đề nội luật hoá. Tạp chí Luật học, số 5/2010, tr. 41.
(16) Đoàn Thị Tố Uyên (2021), Bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 8/2021, tr. 79.
(17) Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, tlđd, tr. 253.
(18) Đoàn Thị Tố Uyên (2021), Bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay, Tlđd, tr. 79.
(19) E. Welty and L. Lundy (2013), “A children’s rights-based approach to involving children in decision making”, JCOM 12(03): C02, p. 45.
(20) E. Welty and L. Lundy (2013), “A children’s rights-based approach to involving children in decision making”, tlđd, tr.45.
(21) Ví dụ, Công ước của Châu Âu về việc Thực hiện Các quyền của trẻ em năm 1996 cũng sử dụng cách tiếp cận dựa trên quyền để xây dựng.
(22) Ngô Huy Cương (2017), Một số bất cập của Luật Trẻ em năm 2016, tlđd, tr. 35.
(23) Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Trẻ em năm 2016, truy cập tại địa chỉ: https://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/PhoBienKienThucPhapLuat/Attachments/1363/Gioi%20thieu%20Luat%20tre%20em.pdf, truy cập ngày 12/04/2025.
(24) Ngô Huy Cương (2017), Một số bất cập của Luật Trẻ em năm 2016, tlđd, tr. 36.
(25) Đinh Ngọc Thắng, Hà Thị Thuý (chủ biên) (2024), Bảo đảm quyền trẻ em: Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam, tlđd, tr.103.
(26) Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
(27) Xem Nguyễn Phương Thảo, Hà Ngọc Quỳnh Anh (2023), Xử lý các hành vi xâm hại tình dục trẻ em trên không gian mạng: Hướng dẫn của Liên hợp quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 05 (165)/2023, tr. 65; xem thêm: Vũ Hải Việt, Nguyễn Thị Thanh Bình (2015), Cần quy định thống nhất về độ tuổi trẻ em trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, truy cập tại địa chỉ: https://danchuphapluat.vn/can-quy-dinh-thong-nhat-ve-do-tuoi-tre-em-trong-he-thong-phap-luat-viet-nam-3651.html, ngày truy cập 12/05/2025; xem thêm: Lê Xuân Lục (2021), Bàn về tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”, Tạp chí Kiểm sát điện tử, ngày 17/10/2021, truy cập tại địa chỉ: https://kiemsat.vn/ban-ve-toi-su-dung-nguoi-duoi-16-tuoi-vao-muc-dich-khieu-dam-62540.html, ngày truy cập 08/07/2025.