Giáo dục quyền con người nhằm hướng tới xây dựng một nền văn hoá nhân quyền là mối quan tâm hết sức sâu sắc của Liên hợp quốc, nhất là từ khi tổ chức lớn nhất hành tinh này xây dựng và triển khai các chương trình giáo dục quyền con người từ năm 1995 cho đến nay. Qua việc nhận diện những vấn đề mang tính bền vững, kế thừa - như là những hằng số, cũng như những điểm tiếp biến trong các giai đoạn của các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc, bài viết góp phần gợi mở cho Việt Nam trong việc nghiên cứu, áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả trong tổ chức thực hiện giáo dục quyền con người phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Bảo đảm quyền con người, triển khai giáo dục về quyền con người tại Việt Nam
đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Nguồn: nhandan.vn.
Đặt vấn đề
Giáo dục quyền con người nhằm hướng tới xây dựng một nền văn hoá nhân quyền là mối quan tâm hết sức sâu sắc và là quyết tâm bền bỉ của Liên hợp quốc, kể từ khi thành lập cho đến ngày nay. Từ những nền tảng pháp lý và định hướng chung cho việc thúc đẩy giáo dục quyền con người của Hiến chương Liên hợp quốc (năm 1945) đến việc ban hành liên tiếp hàng trăm văn kiện chính trị, pháp lý cũng như tổ chức hàng chục chương trình, kế hoạch hành động thực tiễn về giáo dục quyền con người trong suốt 80 năm qua cho thấy nỗ lực không ngừng nghỉ của tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh này. Trong chuỗi các hoạt động đó, có thể nói các chương trình giáo dục quyền con người, đặc biệt là Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004) và Chương trình Thế giới về giáo dục quyền con người (WPHRE) được khởi xướng từ năm 2005, đến nay đã tròn 20 năm với 5 giai đoạn thực hiện, là một quá trình vừa thể hiện tính nhất quán, vừa cho thấy những bước đổi mới, phát triển trong tiếp cận của Liên hợp quốc về giáo dục quyền con người. Việc nhận diện sâu sắc những vấn đề mang tính bền vững, kế thừa, cùng với việc chỉ ra được những điểm tiếp nối, linh hoạt trong thực các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc sẽ giúp Việt Nam có những nỗ lực lớn hơn và hiệu quả hơn nữa trong tổ chức thực hiện giáo dục quyền con người phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
1. Tổng quan về các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc
Trong tiếp cận về quyền con người của Liên hợp quốc1, giáo dục quyền con người “tự nó là một quyền con người và là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa nhân quyền, dân chủ và công lý xã hội”. Cũng theo tổ chức này, “giáo dục quyền con người là điều cần thiết để khuyến khích mối quan hệ hài hòa giữa các cộng đồng, để khoan dung và hiểu biết lẫn nhau và cuối cùng là vì hòa bình”. Để thực hiện được điều đó, theo Liên hợp quốc, “giáo dục quyền con người không chỉ bao gồm việc cung cấp thông tin mà phải tạo thành một quá trình toàn diện suốt đời mà qua đó mọi người ở mọi cấp độ phát triển và mọi tầng lớp xã hội đều học được cách tôn trọng phẩm giá của người khác và bảo đảm sự tôn trọng đó trong mọi xã hội”. Nói cách khác, giáo dục quyền con người là “chiến lược lâu dài nhằm xây dựng xã hội công bằng, hòa bình và phát triển bền vững”. Với tư duy, tầm nhìn đó, và với vị thế của mình, hơn 80 năm qua, Liên hợp quốc đã thể hiện vai trò dẫn dắt của mình trong việc triển khai các chương trình toàn cầu về giáo dục quyền con người.
Việc hiện thực hoá sự quan tâm sâu sắc đến giáo dục quyền con người thành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể của Liên hợp quốc được thể hiện rõ từ khoảng thập niên 90 của thế kỷ XX, với 2 chương trình nổi bật nối tiếp nhau. Đó là chương trình thực hiện Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004) và Chương trình Thế giới Giáo dục quyền con người (từ 2005 đến nay). Cụ thể:
a) Chương trình thực hiện Thập niên giáo dục quyền con người (1995-2004)
Trên cơ sở các quan điểm chính trị, quy định pháp lý của các văn kiện quốc tế, từ thực tiễn nỗ lực của một số quốc gia cũng như sáng kiến của một số tổ chức quốc tế, nhất là một số nghị quyết của Uỷ ban Nhân quyền về giáo dục quyền con người2, ngày 23/12/1994, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết công bố giai đoạn mười năm (bắt đầu từ ngày 01/01/1995) là Thập kỷ Giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc.
Nghị quyết của Liên hợp quốc được triển khai thực hiện bởi Kế hoạch hành động cho Thập kỷ Liên hợp quốc về Giáo dục quyền con người (1995-2004) với tựa đề “Giáo dục nhân quyền - bài học cho cuộc sống”. Có thể nói sau bản “Kế hoạch hành động thế giới về giáo dục quyền con người và dân chủ” (do Đại hội Quốc tế về giáo dục nhân quyền và dân chủ thông qua năm 1993)3, đây là kế hoạch hành động lớn nhất, bài bản và cụ thể nhất của Liên hợp quốc về giáo dục quyền con người, với 10 mục lớn4, trong đó mục VII “Chương trình thực hiện” thiết kế 08 yếu tố thành phần, mỗi thành phần đều có mục tiêu, các nội dung thực hiện và giám sát, đánh giá. Có thể nói đây là “kim chỉ nam” quan trọng cho hoạt động giáo dục quyền con người trên phạm vi toàn thế giới trong giai đoạn nhân loại kết thúc thế kỷ XX đầy biến động và chuyển sang thế kỷ XXI với những thay đổi nhanh chóng trên nhiều phương diện.
b) Chương trình thế giới về giáo dục quyền con người (WPHRE)
Dựa trên những thành tựu (cũng như những hạn chế và thách thức đặt ra5) của Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004), ngày 10/12/2005, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công bố Chương trình thế giới giáo dục quyền con người nhằm “hướng đến việc thúc đẩy sự hiểu biết chung về các nguyên tắc và phương pháp cơ bản của giáo dục quyền con người, cung cấp một khuôn khổ hành động cụ thể và tăng cường quan hệ đối tác và hợp tác từ cấp độ quốc tế xuống đến cấp cơ sở”6.
Đây là chương trình gồm 05 giai đoạn nối tiếp nhau, mỗi giai đoạn đều có bản Kế hoạch hành động với nội dung và đối tượng ưu tiên được mở rộng qua từng giai đoạn, cụ thể:
- Giai đoạn 1 (2005-2009): Giáo dục quyền con người trong hệ thống trường tiểu học và trung học cơ sở;
- Giai đoạn 2 (2010-2014): Giáo dục quyền con người cho giáo dục đại học và các chương trình đào tạo quyền con người cho giáo viên và nhà giáo dục, công chức, cán bộ thực thi pháp luật và quân nhân;
- Giai đoạn 3 (2015-2019): Tăng cường thực hiện hai giai đoạn đầu và thúc đẩy đào tạo quyền con người cho các chuyên gia truyền thông và nhà báo;
- Giai đoạn 4 (2020-2024): Trao quyền cho thanh thiếu niên thông qua giáo dục quyền con người;
- Giai đoạn 5 (2025-2029): Thanh thiếu niên, bao gồm trẻ em là các lĩnh vực ưu tiên, quyền con người và công nghệ số, môi trường và biến đổi khí hậu, và bình đẳng giới.
2. Sự kế thừa trong các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc
Với quan niệm giáo dục quyền con người là “quá trình toàn diện suốt đời” và là “chiến lược lâu dài”, từ năm 1994 đến nay, Liên hợp quốc đã tích cực xây dựng các chương trình giáo dục quyền con người như một nỗ lực không ngừng nghỉ. Hơn 30 năm trôi qua với biết bao thay đổi lớn lao của thế giới, nhưng trong các chương trình giáo dục quyền con người của tổ chức lớn nhất hành tinh này vẫn có những nội dung luôn được duy trì bền vững và được kế thừa, tiếp nối, thể hiện trên những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, sự kế thừa về mục tiêu trong các chương trình giáo dục quyền con người
Mục tiêu chung xuyên suốt trong các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc đó là hướng tới “xây dựng một nền văn hoá nhân quyền” thông qua cung cấp/hình thành ở mọi tầng lớp người học những yếu tố cơ bản: i) Kiến thức và kỹ năng - tìm hiểu về các tiêu chuẩn và cơ chế nhân quyền, cũng như có được các kỹ năng để đưa chúng vào thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày; ii) Các giá trị, thái độ - phát triển các giá trị và củng cố thái độ ủng hộ nhân quyền; iii) Hành vi, hành động - khuyến khích hành động bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.
Nếu như Kế hoạch hành động của Liên hợp quốc về Thập kỷ giáo giáo dục quyền con người (1995-2004) định nghĩa giáo dục quyền con người “là các nỗ lực đào tạo, phổ biến và thông tin nhằm xây dựng một nền văn hóa phổ quát về nhân quyền thông qua việc truyền đạt kiến thức và kỹ năng cũng như định hình thái độ” thì trong 05 giai đoạn của WPHRE của Liên hợp quốc (từ năm 2005 đến 2029) cũng đều xác định “giáo dục quyền con người là đào tạo và thông tin nhằm xây dựng một nền văn hóa phổ quát về nhân quyền thông qua việc chia sẻ kiến thức, truyền đạt kỹ năng, định hình thái độ”. Như vậy, mục tiêu của các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc suốt hơn mấy thập niên qua là một hằng số, thể hiện mong mỏi của nhân loại hướng tới xây dựng một nền văn hoá nhân quyền trên phạm vi toàn thế giới.
Về các mục tiêu cụ thể, tuy diễn đạt có thể khác nhau, nhưng về cơ bản, các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc đều nhằm tới việc:
(a) Tăng cường sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản;
(b) Phát triển toàn diện nhân cách con người và ý thức về phẩm giá của con người;
(c) Thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung, bình đẳng giới và tình hữu nghị giữa tất cả các quốc gia, người bản địa và các nhóm chủng tộc, quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ;
(d) Tạo điều kiện cho tất cả mọi người tham gia hiệu quả vào một xã hội tự do, dân chủ, được quản lý theo pháp quyền;
(e) Thúc đẩy và gìn giữ hòa bình.
Thứ hai, sự kế thừa về các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục quyền con người
Trong các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc, việc xây dựng các nguyên tắc cơ bản là kim chỉ nam quan trọng cho hoạt động giáo dục quyền con người ở mọi quốc gia trên thế giới. Theo đó, từ Kế hoạch hành động cho Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004) đến các giai đoạn của WPHRE (2005 đến 2029) đều kiên định các nguyên tắc sau:
- Tiếp cận toàn diện đối với giáo dục quyền con người, bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và công nhận tính không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quyền.
- Tôn trọng, đánh giá cao sự khác biệt; bình đẳng, không phân biệt đối xử dưới mọi hình thức trong giáo dục quyền con người.
- Giáo dục quyền con người phải gắn với cuộc sống hàng ngày của người học, thu hút người học vào tham gia đối thoại về các cách thức và phương tiện để đưa quyền con người từ các chuẩn mực trừu tượng thành hiện thực, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của họ.
Thứ ba, sự kế thừa về xác định các chủ thể tham gia các chương trình giáo dục quyền con người
Trong hơn 30 năm qua, Liên hợp quốc đã thể hiện sự thống nhất cách tiếp cận trong việc xác định các chủ thể tham gia vào các chương trình giáo dục quyền con người. Cụ thể, các chủ thể tham gia chính là:
- Các nhà nước (chính phủ): đây là chủ thể chính, đóng vai trò tích cực trong việc thực hiện chương trình giáo dục quyền con người thông qua việc xây dựng các kế hoạch hành động quốc gia về giáo dục quyền con người, đưa vào hoặc tăng cường chương trình giảng dạy quốc gia về quyền con người trong hệ thống giáo dục chính thức, tiến hành các chiến dịch truyền thông về quyền con người...
- Các cơ quan nhân quyền quốc gia, (các ủy ban nhân quyền, văn phòng thanh tra nhân quyền, các viện nghiên cứu và đào tạo nhân quyền): là các chủ thể đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng, điều phối và thực hiện các chương trình giáo dục quyền con người ở cấp độ quốc gia.
- Các tổ chức phi chính phủ quốc gia, các tổ chức cơ sở, các hiệp hội chuyên môn, các học giả, chuyên gia giáo dục,... là nhóm chủ thể được khuyến khích tham gia để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục quyền con người.
- Các thiết chế nhân quyền của Liên hợp quốc (Uỷ ban Nhân quyền trước đây và Hội đồng Nhân quyền hiện nay; Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người; Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO); Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Người tị nạn (UNHCR), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP)...: là các chủ thể hỗ trợ các quốc gia về giáo dục quyền con người, thông qua việc định hướng, điều phối, tư vấn, theo dõi, v.v..
Thứ tư, sự kế thừa về phạm vi thực hiện giáo dục quyền con người
Các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc, dù ở Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004) hay trong WPHRE (2005-2029), đều xác định phạm vi thực hiện giáo dục quyền con người bao gồm cả giáo dục chính thức và giáo dục không chính thức nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện và tối đa hoá đối tượng được giáo dục quyền con người. Bên cạnh đó, các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc đều có điểm chung là giành sự quan tâm sâu sắc hơn đối với một số nhóm xã hội đặc thù. Cụ thể, trong Kế hoạch hành động thực hiện Thập niên giáo dục quyền con người (1995-2024) xác định: “các hoạt động giáo dục nhân quyền trong Thập kỷ này sẽ đặc biệt chú trọng đến quyền con người của phụ nữ, trẻ em, người già, người dân tộc thiểu số, người tị nạn, người bản địa, người cùng cực nghèo đói, người nhiễm HIV hoặc AIDS và các nhóm dễ bị tổn thương khác”7. Tương tự, dù mỗi giai đoạn của WPHRE (2005-2029) tập trung cho một/một số nhóm đối tượng cụ thể, nhưng các bản kế hoạch hành động đều chú ý đến những nhóm dễ bị tổn thương. Chẳng hạn, tại Kế hoạch hành động cho giai đoạn thứ tư (2020-2024) yêu cầu: “Mở rộng giáo dục quyền con người cho, với và bởi thanh thiếu niên trong giáo dục chính quy và phi chính, ưu tiên những người trẻ trong tình huống bị loại trừ hoặc dễ bị tổn thương”8.
Thứ năm, sự kế thừa về phương pháp giáo dục quyền con người
Với quan niệm “cách thức truyền đạt giáo dục là chìa khóa cho hiệu quả của nó”, Liên hợp quốc luôn coi trọng và đề cao việc sử dụng các phương pháp đa dạng, linh hoạt, sinh động, tích cực... trong giáo dục quyền con người. Đặc biệt, Liên hợp quốc luôn nhấn mạnh, cần lấy người học làm trung tâm, giáo dục bảo đảm sự tham gia, thông qua trải nghiệm của người học, hướng tới kích thích tư duy phản biện, hành động, phù hợp đối tượng và bối cảnh văn hoá của người học. Trong Kế hoạch hành động của Thập kỷ giáo dục quyền con người (1994-2005), Liên hợp quốc chỉ rõ: “sử dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo, tương tác, mang lại hy vọng tốt nhất để đảm bảo sự tham gia tích cực, chủ động của những người tham gia chương trình. Các kỹ thuật như vậy có thể bao gồm việc sử dụng các nhóm làm việc, thảo luận bài giảng, nghiên cứu tình huống, thảo luận nhóm, thảo luận bàn tròn, các buổi động não, mô phỏng và nhập vai, các chuyến đi thực tế, thực hành và sử dụng các phương tiện nghe nhìn, phù hợp với văn hóa của đối tượng cụ thể”9. Cũng nhấn mạnh phương pháp đề cao sự chủ động của người học, trong Kế hoạch hành động cho giai đoạn đầu của WPHRE, Liên hợp quốc khuyến khích: “sử dụng các phương pháp sư phạm tham gia bao gồm kiến thức, phân tích phê phán và các kỹ năng hành động thúc đẩy quyền con người”10. Tương tự, các bản kế hoạch hành động cho các giai đoạn của WPHRE đều nhấn mạnh phương pháp “mang tính tham gia, trải nghiệm, lấy người học làm trung tâm, hướng đến hành động và tính đến bối cảnh văn hóa”11 và “các phương pháp giáo dục nhân quyền phù hợp, mang tính tham gia, lấy người học làm trung tâm, phù hợp với lứa tuổi, có tính đến giới, dựa trên trải nghiệm và hướng đến hành động”12.
3. Sự phát triển của các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc
Sau 10 năm thực hiện Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004), tại khoá họp lần thứ 60 (tháng 02/2004), Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã xem xét Báo cáo về những thành tựu và hạn chế của Thập kỷ và về các hoạt động tương lai trong lĩnh vực này. Bên cạnh khái quát những kết quả đạt được, báo cáo cũng cho thấy những hạn chế, bất cập của việc triển khai chương trình Thập kỷ giáo dục quyền con người trên các khía cạnh khác nhau, như: tổ chức thực hiện, nội dung, phương pháp luận, cơ chế phối hợp, cơ chế tài chính 13,v.v.. Từ đó, mặc dù ban đầu dự kiến sẽ tiếp tục thực hiện Thập kỷ thứ 2 giáo dục quyền con người, tuy nhiên, sau đó vào cuối năm 2004, xét thấy “giáo dục quyền con người là một quá trình lâu dài và trọn đời, (...) góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy bình đẳng và phát triển bền vững, ngăn ngừa xung đột và vi phạm nhân quyền, đồng thời tăng cường sự tham gia và các tiến trình dân chủ, hướng tới phát triển các xã hội trong đó mọi quyền con người của tất cả mọi người đều được coi trọng và tôn trọng”, Liên hợp quốc đã ban hành Nghị quyết thông qua “Chương trình giáo dục quyền con người toàn cầu, bắt đầu từ ngày 01/01/2005, được xây dựng theo từng giai đoạn liên tiếp, nhằm duy trì và phát triển việc thực hiện các chương trình giáo dục quyền con người trong mọi lĩnh vực”14. Nghị quyết chỉ rõ, Chương trình này cần “được xây dựng theo từng giai đoạn liên tiếp, nhằm duy trì và phát triển việc thực hiện các chương trình giáo dục quyền con người trong mọi lĩnh vực”, và “lưu ý các kế hoạch hành động của từng giai đoạn trong chương trình toàn cầu phải được xây dựng hợp lý, được xây dựng theo hướng thực tế”.
Như vậy, sau Thập kỷ giáo dục quyền con người, Liên hợp quốc đã xây dựng và hướng dẫn triển khai thực hiện một chương trình giáo dục toàn cầu mang tính liên tiếp, không ngừng nghỉ. Từ đó đến nay, bên cạnh sự kế thừa các giai đoạn trước, các chương trình giáo dục quyền con người của tổ chức này cũng đã có những bước phát triển nhằm từng bước phù hợp với thực tiễn phát triển của nhân loại, nhất là từ khi bước vào thế kỷ XXI. Sự phát triển của các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau đây:
Một là, sự phát triển trong việc xác định mục tiêu của giáo dục quyền con người
Tuy mục tiêu chung nhất là nhằm hướng tới xây dựng một nền văn hoá nhân quyền và 3 mục tiêu cơ bản của giáo dục (kiến thức, kỹ năng, thái độ/hành vi), nhưng so với Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004), WPHRE chỉ rõ hơn và từng bước nhấn mạnh hơn tới mục tiêu hành vi/hành động của hoạt động giáo dục quyền con người. Trong kế hoạch hành động Thập kỷ, mặc dù Liên hợp quốc xác định “giáo dục nhân quyền theo Thập kỷ này sẽ hướng tới mục tiêu truyền đạt kỹ năng và kiến thức cho người học và tác động tích cực đến thái độ và hành vi của họ”, nhưng chưa thật sự nêu rõ 3 nhóm mục tiêu này. Trong khi đó, tại Kế hoạch hành động cho giai đoạn thứ nhất của WPHRE xác định cụ thể mục tiêu của giáo dục quyền con người là:
“(a) Kiến thức và kỹ năng - tìm hiểu về nhân quyền và các cơ chế bảo vệ quyền con người, cũng như có được các kỹ năng để áp dụng chúng vào cuộc sống hàng ngày;
(b) Các giá trị, thái độ và hành vi - phát triển các giá trị và củng cố thái độ và hành vi ủng hộ quyền con người;
(c) Hành động - hành động để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”.
Như vậy, ngay tại giai đoạn đầu của WPHRE, Liên hợp quốc đã bổ sung, nhấn mạnh nhóm mục tiêu “hành động” trong giáo dục quyền con người, bởi xét cho cùng, chỉ thông qua hành động tham gia bảo vệ và thúc đẩy quyền con người thì người được giáo dục mới thực sự là nhân tố đưa kết quả của hoạt động này vào trong thực tiễn. Đến Kế hoạch hành động cho giai đoạn thứ tư của WPHRE, Liên hợp quốc lại nhấn mạnh và cụ thể hoá mục tiêu “hành động” với quan niệm giáo dục quyền con người cho thanh niên là “trao chìa khoá” cho họ để họ trở thành “tác nhân chính trong việc hiện thực hóa các quyền con người, đạt được phát triển bền vững, đảm bảo hòa bình và ngăn ngừa bạo lực và xung đột”. Thậm chí, Liên hợp quốc còn kỳ vọng giáo dục quyền con người sẽ mang đến “sự tham gia toàn diện của thanh niên trong việc định hình và thực hiện các chính sách ảnh hưởng đến họ hoặc sẽ ảnh hưởng đến họ trong tương lai”15.
Hai là, sự phát triển về phương thức tiếp cận trong giáo dục quyền con người
Hiệu quả của giáo dục quyền con người phụ thuộc rất lớn vào cách tiếp cận mang tính tổng thể khi triển khai hoạt động này. Qua các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc, cách tiếp cận giáo dục quyền con người từng bước có sự phát triển, từ chỗ tiếp cận trên góc độ cung cấp tri thức, thái độ, kỹ năng, hành động về quyền sang cách tiếp cận dựa trên quyền con người. Đây là quá trình phát triển theo hướng tiếp cận sâu, toàn diện, và thẩm thấu. Nếu ở Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004), giáo dục quyền con người chủ yếu được thực hiện thông qua việc “truyền đạt kiến thức và kỹ năng cũng như định hình thái độ”, thì bước sang giai đoạn đầu tiên của WPHRE, hoạt động này đã được phát triển với phương thức giáo dục dựa trên quyền. Liên hợp quốc khẳng định rõ ràng rằng, “Kế hoạch hành động này nhằm mục đích đóng góp vào việc đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ bằng cách thúc đẩy giáo dục chất lượng dựa trên quyền”16. Cách tiếp cận dựa trên quyền, theo Liên hợp quốc, là “cần được hiểu là một quá trình bao gồm: quyền con người thông qua giáo dục (đảm bảo rằng tất cả các thành phần và quy trình học tập, bao gồm chương trình giảng dạy, tài liệu, phương pháp và đào tạo đều có lợi cho việc học về quyền con người) và quyền con người trong giáo dục (bảo đảm tôn trọng quyền con người của tất cả các bên liên quan và thực hành các quyền trong hệ thống giáo dục)17. Cách tiếp cận này được tiếp tục khẳng định và kiến giải rõ hơn trong Kế hoạch hành động cho giai đoạn thứ 2 của WPHRE, theo đó, giáo dục quyền con người “...liên quan đến không chỉ nội dung của chương trình giảng dạy mà còn cả các quá trình giáo dục, phương pháp sư phạm và môi trường diễn ra giáo dục”18. Sau này, trên cơ sở định nghĩa của Tuyên ngôn về giáo dục và đào tạo quyền con người của Liên hợp quốc, cách tiếp cận này được thể hiện trong các giai đoạn tiếp theo của WPHRE là: i) Giáo dục về quyền con người, bao gồm việc cung cấp kiến thức và hiểu biết về các chuẩn mực và nguyên tắc quyền con người, các giá trị nền tảng của quyền con người và các cơ chế bảo vệ quyền con người; ii) Giáo dục thông qua quyền con người, bao gồm việc học tập và giảng dạy theo cách tôn trọng quyền của cả người dạy và người học; iii) Giáo dục vì quyền con người, bao gồm việc trao quyền cho mọi người được hưởng và thực hiện các quyền của mình, đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền của người khác19.
Ba là, sự phát triển của giáo dục quyền con người thông qua việc mở rộng và đi sâu từng nhóm đối tượng cụ thể theo từng giai đoạn
Có thể nói Liên hợp quốc đã có sự thay đổi tư duy từ Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004) sang WPHRE trong xác định các nhóm đối tượng giáo dục. Theo đó, từ chỗ giáo dục quyền con người theo hướng “được thiết kế để đưa các mục tiêu của Thập kỷ đến với nhiều đối tượng nhất có thể” và “công chúng nói chung sẽ là đối tượng của các nỗ lực thông tin nhân quyền sâu rộng”20 trong Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004), Liên hợp quốc chuyển sang tập trung cho từng nhóm đối tượng trọng tâm theo 5 giai đoạn của WPHRE. Việc thiết kế các chương trình giáo dục quyền con người chuyên sâu cho từng nhóm đối tượng cụ thể sẽ giúp cho hoạt động này lựa chọn được nội dung, phương pháp, cách tiếp cận, huy động nguồn lực, giám sát, đánh giá, v.v.. phù hợp hơn, hiệu quả hơn.
Bốn là, sự phát triển của các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc thông qua việc gắn hoạt động này với các mục tiêu, chương trình khác có liên quan
Nhìn lại lịch sử, nếu như Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995-2004) chủ yếu là chương trình mang tính riêng rẽ, độc lập của Liên hợp quốc thì bước sang thời kỳ thực hiện WPHRE, hoạt động này đã được gắn kết, phối hợp với các mục tiêu khác của của Liên hợp quốc, đặc biệt là Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ và Mục tiêu Phát triển bền vững. Có thể thấy, WPHRE đã được bắt đầu với sự tích hợp các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc khi tổ chức này xác định Kế hoạch hành động cho giai đoạn thứ nhất là “nhằm mục đích đóng góp vào việc đạt được Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ bằng cách thúc đẩy giáo dục chất lượng dựa trên quyền”. Tiếp đến, WPHRE lại có “sự tương tác với Thập kỷ Giáo dục vì phát triển bền vững của Liên hợp quốc (2005-2014) thông qua việc kết hợp các nỗ lực để giải quyết các vấn đề quan tâm chung”21. Đến giai đoạn 4 và 5 của WPHRE, Liên hợp quốc tiếp tục có sự tương tác chặt chẽ này, chẳng hạn xác định “liên kết giai đoạn thứ tư với Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững và cụ thể là với mục tiêu 4.7”22 (Bảo đảm nền giáo dục có chất lượng, công bằng, bao trùm và thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người).
Năm là, sự phát triển của các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc trong việc tích hợp các vấn đề mới, các thách thức mới toàn cầu
Trong quá trình triển khai các giai đoạn của WPHRE, bên cạnh việc chú trọng các nhóm đối tượng trọng tâm, Liên hợp quốc đã đồng thời có một bước phát triển trong việc gắn giáo dục quyền con người với những thách thức toàn cầu mới, nhất là ở giai đoạn 5. Ở giai đoạn này, mặc dù cũng chú trọng giáo dục quyền con người cho thanh niên, nhưng Liên hợp quốc đã tập trung nhấn mạnh 03 nội dung chuyên đề gắn với 03 vấn đề nóng, bức xúc và là thách thức mới của nhân loại trong bối cảnh hiện tại: i) quyền con người và công nghệ số; ii) quyền con người về môi trường và biến đổi khí hậu; iii) quyền con người và bình đẳng giới. Mỗi một nhóm chuyên đề, Liên hợp quốc đều có những chỉ dẫn hết sức cụ thể về nội dung, mục tiêu, phương pháp, điều kiện bảo đảm thực hiện… Có thể khẳng định, đây là cách tiếp cận mới, mang hơi thở thực tiễn của WPHRE, đồng thời góp phần định hình cách hiểu mới về giáo dục quyền con người trong thế kỷ 21: đa chiều, linh hoạt và gắn kết toàn cầu.
4. Kết luận
Sau 30 năm xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục quyền con người, Liên hợp quốc đã có những nỗ lực lớn lao và những thành công đáng kể trong việc thúc đẩy toàn thế giới tiến tới xây dựng một nền văn hoá nhân quyền. Các chương trình giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc trong thời gian qua vừa có những điểm được kế thừa vững chắc, vừa có những bước phát triển cao hơn trên nhiều phương diện của giai đoạn sau so với các giai đoạn trước đó. Sự kiên định gắn với tính linh hoạt, đa chiều trong các chỉ dẫn của Liên hợp quốc về giáo dục quyền con người không chỉ là những cứ liệu hết sức có giá trị mà còn là nguồn cảm hứng mãnh liệt cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam, trong việc tăng cường giáo dục quyền con người, từ đó không ngừng nâng cao thành tựu trong bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong kỷ nguyên mới./.
PGS.TS. Lê Văn Trung
Phó Viện trưởng Viện Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 51 (12/2026)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) Nghị quyết 49/184 ngày 23/12/1994 của Liên hợp quốc về Thập kỷ giáo dục quyền con người. Xem: https://docs.un.org/en/A/RES/49/184.
(2) Nghị quyết 1993/56 của Ủy ban nhân quyền ngày 09/3/1993, trong đó khuyến nghị rằng kiến thức về nhân quyền, cả về mặt lý thuyết và trong ứng dụng thực tế, nên được thiết lập là ưu tiên trong các chính sách giáo dục; Nghị quyết 1994/51 của Ủy ban Nhân quyền ngày 04/3/1994, khuyến khích Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người đưa vào các mục tiêu cụ thể của mình một kế hoạch hành động cho thập kỷ Liên hợp quốc về giáo dục nhân quyền.
(3) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/10-world-plan-action-education-human-rights-and-democracy-montreal-declaration-1993.
(4) Gồm: Cơ sở chuẩn mực và định nghĩa; Nguyên tắc chỉ đạo chung; Mục tiêu; Các bên tham gia chính; Các nhóm mục tiêu; Cấu trúc phối hợp và thực hiện; Chương trình thực hiện; Đánh giá toàn cầu giữa kỳ; Kết thúc thập kỷ; Theo dõi thập kỷ. Xem: https://documents.un.org/doc/undoc/gen/n97/008/02/pdf/n9700802.pdf.
(5) Báo cáo của Uỷ ban nhân quyền về những thành tựu và hạn chế của Thập kỷ giáo dục nhân quyền năm 2004 tại: https://documents.un.org/doc/undoc/gen/g04/112/36/pdf/g0411236.pdf.
(6) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education.
(7) Xem: https://documents.un.org/doc/undoc/gen/n97/008/02/pdf/n9700802.pdf, đoạn 23.
(8) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/fourth-phase-2020-2024-world-programme-human-rights-education, đoạn 22, b.
(9) Xem: https://documents.un.org/doc/undoc/gen/n97/008/02/pdf/n9700802.pdf; đoạn 75, c.
(10) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/first-phase-2005-2009-world-programme-human-rights-education; đoạn 8, g.
(11) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/third-phase-2015-2019-world-programme-human-rights-education; đoạn 4.
(12) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/fifth-phase-2025-2029-world-programme-human-rights-education; đoạn 26, e.
(13) Xem: https://documents.un.org/doc/undoc/gen/g04/112/36/pdf/g0411236.pdf; các đoạn từ 21-27.
(14) Xem: Nghị quyết 59/113 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, https://docs.un.org/en/A/RES/59/113a.
(15) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/fourth-phase-2020-2024-world-programme-human-rights-education, đoạn 21.
(16) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/first-phase-2005-2009-world-programme-human-rights-education; đoạn 13.
(17) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/first-phase-2005-2009-world-programme-human-rights-education; đoạn 17.
(18) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/second-phase-2010-2014-world-programme-human-rights-education; đoạn 22.
(19) Xem Tuyên ngôn về giáo dục và đào tạo quyền con người của Liên hợp quốc: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/11-united-nations-declaration-human-rights-education-and-training-2011; Điều 2.
(20) Xem: https://docs.un.org/en/A/RES/49/184.
(21) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/second-phase-2010-2014-world-programme-human-rights-education; đoạn 20.
(22) Xem: https://www.ohchr.org/en/resources/educators/human-rights-education-training/world-programme-human-rights-education/fourth-phase-2020-2024-world-programme-human-rights-education, đoạn 11.