Bài viết đề xuất bổ sung, phát triển toàn diện nội dung quyền con người vào Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; kiến nghị hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân; xác lập rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang trong tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người; phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội. Đồng thời, đề xuất xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dựa trên quyền con người, đẩy mạnh giáo dục quyền con người, hình thành văn hóa nhân quyền, tăng cường đối thoại và hội nhập quốc tế và coi quyền con người XHCN là trụ cột nền tảng thứ tư của mô hình XHCN Việt Nam trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9.
 Nguồn: vanhoanghethuat.vn.

Dựa vào nội dung các vấn đề về quyền con người đã được xác định qua các kỳ đại hội, trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới, hội nhập quốc tế và yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN, kiến nghị nội dung quyền con người cần được đưa vào Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng với các nội dung sau đây:

Thứ nhất, bổ sung vào văn kiện quan điểm “Quyền con người là trung tâm, mục tiêu, động lực phát triển đất nước. Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước, quyền làm chủ của nhân dân”.

Trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”1 và đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”2. Đề nghị tiếp tục giữ quan điểm này, nhưng bổ sung thêm cách tiếp cận quyền con người là trung tâm, mục tiêu, động lực phát triển đất nước.

Việc bổ sung này xuất phát từ cách tiếp cận chung của quốc tế hiện nay, không chỉ xác định con người là trung tâm, mà con người là chủ thể trung tâm của quyền con người, muốn hiện thực hóa con người là trung tâm, cần phải hiện thực hóa quyền con người là trung tâm trong mọi chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển; vì suy cho cùng mọi chính sách phát triển phải vì con người, nhưng nếu không chú trọng thực hiện quyền con người, thì khó hiện thực hóa con người là trung tâm, thực hiện tốt các quyền con người, chính là vì con người và mới lấy con người là trung tâm được3. Do vậy, cần bổ sung vào văn kiện quan điểm “quyền con người là trung tâm, mục tiêu, động lực phát triển đất nước”.

Thứ hai, bổ sung vào Văn kiện quan điểm “Hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm quyền tham gia thực chất, chủ động của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội, quyền được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển, thành quả của công cuộc đổi mới; nghiên cứu xây dựng đề án thành lập cơ quan quốc gia về quyền con người phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, bảo đảm tốt nhất yêu cầu đối nội, đối ngoại”.

- Về hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được nêu tại Nghị quyết số 27/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới. Nghị quyết đã đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là “Hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”4.

- Về chủ trương thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia đã được đề ra tại Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác nhân quyền trong tình hình mới, và trong Thông báo Kết luận số 46-CT/TW của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW về công tác nhân quyền trong tình hình mới ngày 06/02/2018 tiếp tục khẳng định: “Sớm nghiên cứu việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, bảo đảm tốt nhất yêu cầu đối nội, đối ngoại”. Quan điểm này đã được thể chế hóa trong nhiều quyết định của Thủ tướng Chính phủ và giao Bộ Công an là cơ quan chủ trì xây dựng đề án5

Như vậy để thực hiện được mục tiêu về hoàn thiện cơ bản cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân, điều kiện cấp thiết là phải có cơ quan chuyên trách quốc gia, vì nếu không có cơ quan chuyên trách về quyền con người thì khó hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết của Trung ương đã đề ra. Do đó, việc triển khai thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia không chỉ hiện thực hóa quan điểm của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ mà còn thực hiện cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã cam kết với quốc tế qua các lần đối thoại về quyền con người.

- Về quyền tham gia thực chất, chủ động của người dân và quyền được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển được cộng đồng quốc tế và Đảng ta đặc biệt quan tâm, vì hai quyền này có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Thực hiện tốt hai quyền này sẽ quyết định đến hiện thực hóa quan điểm lấy con người, quyền con người là trung tâm, mục tiêu, động lực phát triển đất nước. Trong lời mở đầu và Điều 2 của Tuyên bố về quyền phát triển đã thừa nhận rằng: con người là trung tâm của quá trình phát triển và do đó chính sách phát triển cần phải đưa con người trở thành người tham gia chính và là người được hưởng thành quả của sự phát triển6. Điều 2 của Tuyên bố này quy định rằng: con người là trung tâm của sự phát triển và phải là người tham gia chính và được hưởng lợi từ sự phát triển7.

Ở Việt Nam, quyền tham gia của nhân dân đã được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng, với quan điểm là “Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”8 và kiên trì thực hiện nguyên tắc: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Quyền thụ hưởng đã được quy định tại Điều 7, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 20229. Tuy nhiên, việc thực hiện quan điểm bảo đảm sự tham gia của người dân hiệu quả chưa cao, thậm chí rất hình thức; chưa tiếp cận sự tham gia của người dân là một quyền con người - quyền tham gia, chủ yếu dưới góc độ tạo điều kiện để người dân được tham gia (xin ý kiến); chưa gắn quyền tham gia với quyền được hưởng thụ từ thành quả phát triển, thành quả của công cuộc đổi mới.

Thứ ba, đưa nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người gắn với trách nhiệm của tất cả các cơ quan nhà nước. Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ghi nhận.

Quốc hội có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, trong hoạt động lập pháp, ưu tiên xây dựng các đạo luật về quyền con người, quyền công dân;

Chủ tịch nước thực hiện tốt công tác đặc xá và ân giảm hình phạt tử hình;

Xây dựng nền hành chính nhà nước và chính quyền địa phương phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân;

Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân... Đề nghị tiếp tục bổ sung cụm từ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” gắn với hoạt động của cơ quan tư pháp. Vì quan điểm này xuyên suốt trong các văn kiện từ Đại hội IX đến Đại hội XIII của Đảng, được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 2013, đến các đạo luật về tổ chức Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, sứ mệnh của cơ quan tư pháp đã được xác định nhất quán là “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Do vậy, nếu dự thảo báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng thiếu cụm từ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” gắn với hoạt động của cơ quan tư pháp sẽ là một thiếu sót lớn.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân, có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là tiêu chí đánh giá tính hiệu quả hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang.

Cơ sở pháp lý để đưa nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người vào văn kiện Đại hội vì đây là nguyên tắc hiến định đã được quy định tại Điều 3 và khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 201310. Cụ thể hóa nguyên tắc Hiến pháp, trong các Luật Tổ chức Chính phủ năm 201511, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 201412 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 201413 đều đã có quy định trách nhiệm bảo vệ, bảo đảm quyền con người. Hiện nay còn một số luật, như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương... chưa gắn với nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Trong Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới đã xác định mục tiêu đến năm 2030 là: “Hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”; đồng thời Nghị quyết cũng nêu “xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Chính vì vậy, cần bổ sung nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân gắn với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Theo đó, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương... đều phải có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia xác lập.

Về bổ sung quan điểm “cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là tiêu chí đánh giá tính hiệu quả hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang”.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người, trước hết thuộc về nhà nước, cụ thể là các cơ quan nhà nước mà trực tiếp vận hành bộ máy nhà nước, chính là cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Chính vì vậy, để thực hiện hiệu quả vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, cần gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang (cán bộ, chiến sỹ công an và quân đội).

Thực hiện tốt nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người gắn với trách nhiệm của cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, sẽ quyết định đến tính hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền, quyết định đến bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người sẽ từng bước trở thành nguyên tắc ứng xử văn hóa trong hoạt động của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, từng bước hình thành nền văn hóa quyền con người trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.

Thứ tư, bổ sung nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người gắn với vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội.

Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người không chỉ thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước mà còn có trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, của các tổ chức xã hội. Vì vậy, cần bổ sung nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người gắn với hoạt động giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư. Thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Thứ năm, bổ sung quan điểm: phát huy vai trò, giá trị quyền con người xã hội chủ nghĩa như nền tảng của mô hình phát triển và trụ cột thứ tư của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Nghiên cứu lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng quyền con người, cùng với tổng kết thực tiễn lý luận trong nước và kinh nghiệm quốc tế cho thấy: quyền con người giữ vai trò nền tảng, quyết định sự hình thành, vận hành và phát triển của nền kinh tế thị trường. Thực tiễn chứng minh rằng, nếu không thừa nhận và bảo vệ các quyền con người cơ bản, trước hết là quyền sở hữu tư nhân (quyền tư hữu tài sản) và quyền tự do kinh doanh, thì không thể xây dựng được nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Hai quyền năng này là những quyền con người mang tính cốt lõi, quyết định sự tồn tại của kinh tế thị trường, bất kể đó là mô hình thị trường tự do hay thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Mặt khác, kinh tế thị trường chính là phương thức quan trọng để hiện thực hóa quyền con người. Không có kinh tế thị trường thì không thể thực hiện đầy đủ quyền tự do kinh doanh, không thể bảo vệ hiệu quả quyền sở hữu tư nhân, không thể tạo lập công ăn, việc làm bền vững cho người lao động và nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Đồng thời, nếu không tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị các quyền con người trên lĩnh vực kinh tế cơ bản thì cũng không thể xây dựng và vận hành thành công nền kinh tế thị trường. Do đó, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là xây dựng nền kinh tế dựa trên quyền con người (kinh tế nhân quyền), trong đó tăng trưởng kinh tế gắn chặt với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển con người toàn diện.

Từ góc độ lý luận và thực tiễn đó, cần đưa quan điểm, tư tưởng của Tổng Bí thư Tô Lâm về “quyền con người xã hội chủ nghĩa” vào Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV, đồng thời xác lập “quyền con người xã hội chủ nghĩa” như một trụ cột nền tảng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, bên cạnh ba trụ cột đã được xác định là: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Việc bổ sung “quyền con người xã hội chủ nghĩa” thành trụ cột nền tảng thứ tư là hoàn toàn logic và cần thiết, bởi lẽ quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là bản chất, đồng thời là thước đo hiệu quả của cả ba trụ cột còn lại. Không có quyền con người thì không thể xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; không có cơ chế tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân thì không thể hình thành đầy đủ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; và không có quyền con người thì nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng không có nội dung thực chất, bởi dân chủ chính là phương thức thực thi quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị.

Mặc dù dân chủ và quyền con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng nội hàm của quyền con người rộng hơn nội hàm của dân chủ, hai khái niệm này không đồng nhất. Do đó, nếu mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam chỉ xác định ba trụ cột là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất ưu việt của chế độ. Việc xác lập quyền con người xã hội chủ nghĩa như một trụ cột nền tảng sẽ làm rõ hơn bản chất chế độ ta là chế độ lấy con người làm trung tâm, tất cả vì con người, đồng thời phản ánh đúng tầm vóc tư duy lý luận mới của Đảng về quyền con người trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân và tạo cơ sở vững chắc cho việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người xã hội chủ nghĩa trong thời gian tới.

Thứ sáu, đưa quan điểm “đẩy mạnh giáo dục quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm nâng cao nhận thức toàn xã hội về quyền con người”.

Giáo dục quyền con người có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của toàn xã hội về quyền con người; giúp nâng cao ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân, tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác; ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và xã hội, thực hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước về quyền con người; qua đó góp phần phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững của đất nước. Hiện nay, các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành đang triển khai thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Chỉ thị số 12/CT-TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta; Chỉ thị số 44/CT-TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về Công tác nhân quyền trong tình hình mới), các quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tuyên truyền, giáo dục quyền con người (Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 05/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 21/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân và Quyết định số 1079/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam, giai đoạn 2023-2028). Trong thông báo Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp với Ban Điều hành và các cơ quan thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân ngày 19/3/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ thống nhất với Ban Điều hành Đề án “Báo cáo cơ quan có thẩm quyền về việc nghiên cứu, xây dựng và trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị về giáo dục quyền con người trong giai đoạn mới”14. Tại Hội nghị toàn quốc về giáo dục quyền con người ngày 11/12/2024, Đồng chí Phạm Minh Chính, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ một lần nữa chỉ đạo Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xây dựng Đề án trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị về giáo dục quyền con người15.

Thứ bảy, bổ sung vào văn kiện quan điểm tôn trọng, bảo đảm quyền hưởng thụ, tự do sáng tạo trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật của mỗi người dân và cộng đồng, hướng tới xây dựng nền văn hóa dựa trên quyền con người - văn hóa nhân quyền ở nước ta.

- Về “bảo đảm quyền hưởng thụ, tự do sáng tạo trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật của mỗi người dân và cộng đồng”16 đã được quy định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030.

- Về văn hóa nhân quyền/văn hóa quyền con người: hiện chưa có một định nghĩa chung thống nhất về văn hóa nhân quyền, nhưng hạt nhân cốt lõi của văn hóa quyền con người là hệ thống các giá trị chung mà nhân loại đều hướng tới đó là các giá trị về tôn trọng, đề cao phẩm giá con người, tôn trọng sự khác biệt (không có bất cứ một sự phân biệt đối xử nào dựa trên cơ sở về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến...); về bình đẳng, khoan dung, nhân đạo, vị tha... Đây là những giá trị mang tính phổ quát thuộc về những khát vọng, mong ước chung của con người. Những giá trị đó góp phần kết nối, giúp con người trên toàn thế giới hay ở mỗi quốc gia có thể xích lại gần nhau để cùng hướng đến những mục tiêu tốt đẹp, nhân văn.

Căn cứ pháp lý quốc tế: văn hóa quyền con người/văn hóa nhân quyền đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc và UNESCO. Điều 2 Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về giáo dục và đào tạo quyền con người năm 2011 viết: “Giáo dục và đào tạo về quyền con người góp phần vào việc xây dựng và thúc đẩy nền văn hóa toàn cầu về quyền con người”. Hiện nay trong các chương trình, nghị quyết của Liên hợp quốc và Hội đồng Nhân quyền về giáo dục và đạo tạo quyền con người đều xác định mục tiêu là hướng tới nền văn hóa nhân quyền toàn cầu.

Ở Việt Nam, văn hóa nhân quyền chưa được đưa vào trong các văn bản chính thống (văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật), tuy nhiên, đã có nhiều hội thảo khoa học, nhiều công trình nghiên cứu được công bố, xã hội hóa và được đưa vào giảng dạy ở nhiều cơ sở giáo dục.

Việc thừa nhận chính thức văn hóa nhân quyền có ý nghĩa đặc biệt to lớn, không chỉ góp phần hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nước về quyền con người, đưa giá trị quyền con người, văn hóa quyền con người lên tầm cao mới, thừa nhận có một nền văn hóa chung của toàn nhân loại, đó là văn hóa nhân quyền, vì nhân quyền đã được thừa nhận là giá trị chung. Qua đó, việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người sẽ từng bước trở thành nguyên tắc ứng xử có văn hóa trong hoạt động của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, và toàn xã hội.

Thứ tám, tiếp tục bổ sung quan điểm “chủ động đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế về quyền con người, tích cực tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người, xây dựng và định hình thể chế quốc tế về quyền con người; xử lý các hành vi vi phạm quyền con người và đấu tranh có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc về tình hình quyền con người ở Việt Nam”.

Về quan điểm chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền đã được đưa vào văn kiện Đại hội X, XI của Đảng. Hiện nay Nhà nước ta vẫn duy trì 5 kênh đối thoại về quyền con người với Mỹ, Úc, Nay Uy, Thụy Sĩ và EU; tiếp tục đối thoại chu kỳ theo cơ chế của Hội đồng Nhân quyền và cơ chế các công ước về quyền con người.

Về xây dựng và định hình thể chế quốc tế về quyền con người, Việt Nam đang là thành viên Hội đồng Nhân quyền, nhiệm kỳ 2023-2025 và đã tái đắc cử thành viên nhiệm kỳ 2026-2028. Là thành viên của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã có nhiều sáng kiến, tham gia vào xây dựng thể chế, như trình dự thảo về quyền con người và biến đổi khí hậu; quyền tiêm chủng; bảo vệ quyền của các nước đang phát triển... Thông qua các cơ chế đối thoại là cơ hội để truyền bá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về quyền con người; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực quyền con người.

Về xử lý các hành vi vi phạm quyền con người và đấu tranh có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Chúng ta không thể đấu tranh có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền, nếu không xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Quan điểm này đã từng được nêu trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng, đó là “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định”17 và “...đảm bảo quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân”.

Chính vì vậy, để tiếp nối các quan điểm xuyên suốt này, đồng thời phát triển trong giai đoạn mới, đề nghị tiếp tục đưa quan điểm chủ động đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế về quyền con người, tích cực tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người vào văn kiện Đại hội XIV của Đảng, nhưng cần bổ sung thêm quan điểm “xây dựng và định hình thể chế quốc tế về quyền con người; xử lý các hành vi vi phạm quyền con người và đấu tranh có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc về tình hình quyền con người ở Việt Nam”.  

Thứ chín, đưa cụm từ “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người” vào mục XII về phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ XHCN...

Dự thảo Báo cáo chính trị nêu: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”... “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy hạnh phúc, sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”.

Kiến nghị bổ sung vào câu cuối cụm từ “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Đoạn này sẽ được viết lại như sau: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc, sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”. Việc bổ sung này dựa trên các khía cạnh sau đây:

Một là, chuyển hóa từ “nhu cầu” thành “quyền”: đường lối, chủ trương, chính sách nếu chỉ "xuất phát từ" nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân là chưa đủ. Yếu tố then chốt là các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng đó phải được “hiện thực hóa” trên thực tế. Con đường hiệu quả và bền vững nhất để "hiện thực hóa" chính là "thể chế hoá" chúng thành các quyền cụ thể.

Hai là, nhấn mạnh “trách nhiệm thực thi” của Nhà nước: việc “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” chính là phương thức hữu hiệu và là con đường pháp lý để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh...”. Bổ sung cụm từ này không chỉ nêu mục tiêu (hạnh phúc) mà còn khẳng định nghĩa vụ, trách nhiệm chủ động và pháp lý của Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện.

Ba là, thống nhất với tinh thần Hiến pháp: việc bổ sung này làm cho nội dung Báo cáo Chính trị tương thích và thống nhất tuyệt đối với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, vốn lấy quyền con người, quyền công dân làm trung tâm (đặc biệt là Điều 3 và khoản 1 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: "Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân... công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân").

Bốn là, cụ thể hóa “thước đo”: “Hạnh phúc” và “sự hài lòng” là những mục tiêu quan trọng nhưng có thể mang tính trừu tượng. Nhưng việc “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” sẽ cung cấp một hệ tiêu chí và nền tảng pháp lý cụ thể để làm “thước đo”. Quyền con người là điều kiện cần và là nền tảng pháp lý, trong khi hạnh phúc, hài lòng là mục tiêu cuối cùng. Cả hai tạo nên một thước đo toàn diện, chặt chẽ, đều hướng tới là các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp được hiện thực hoá./.

PGS.TS. Tường Duy Kiên

Viện trưởng Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 51 (12/2026)

---

Tài liệu trích dẫn

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia. H.2016, trang 76

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tr.28.

(3) Tuyên bố Viên và chương trình hành động năm 1993 xác định: Con người là chủ thể trung tâm của các quyền và tự do cơ bản nên con người phải là đối tượng thụ hưởng chính, cũng như phải tham gia tích cực vào việc thực hiện những quyền và tự do này.

(4) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Các văn kiện của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về quyền con người – Tuyển chọn và trích dẫn, sách tham khảo, Nhà Xuất bản Lý luận chính trị, năm 2023, trang 144.

(5) Quyết định số 2057/QĐ-TTg ngày 23/11/2015 về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể triển khai thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, nhằm tăng cường năng lực của các cơ quan và cơ chế quốc gia về quyền con người, Thủ tướng Chính phủ chính thức giao Bộ Công an triển khai nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Cơ quan nhân quyền quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ xem xét.

(6) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Các văn kiện quốc tế, khu vực về quyền con người – tuyển chọn, sách tham khảo, Nhà Xuất bản Lý luận chính trị, trang 53.

(7) Sđd, trang 54.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương. Hà Nội, 2016, trang 169.

(9) Điều 7. Quyền thụ hưởng của công dân

1. Được Nhà nước và pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Được bảo đảm thực hiện các quyền về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Được thông tin đầy đủ, kịp thời về các quyền và lợi ích hợp pháp, chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật và quyết định của chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức ở nơi mình cư trú, công tác, làm việc.

3. Được thụ hưởng thành quả đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, chế độ an sinh xã hội, sự an toàn, ổn định của đất nước, của địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động và kết quả thực hiện dân chủ ở nơi mình cư trú, công tác, làm việc.

4. Được tạo điều kiện để tham gia học tập, công tác, lao động, sản xuất, kinh doanh, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân, gia đình và cộng đồng.

(10) Điều 3. Hiến pháp năm 2013: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Khoản 1, Điều 14. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

(11) Điều 21. Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định: Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân.

1. Xây dựng và trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước quyết định các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân.

2. Quyết định những biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân.

3. Tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

(12) Khoản 1, Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân: Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

(13) Khoản 2, Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân: Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

(14) Văn phòng Chính phủ, Thông báo Số 161/TB-VPCP ngày 12/4/2024 về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp với Ban Điều hành và các cơ quan thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.

(15) Thông báo số 1/TB-VPCP ngày 01/01/2025 Thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về giáo dục quyền con người.

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, trang 263-264.

(17) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb.Sự thật, H.1987, tr.112, 117.