Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là nguyên tắc nền tảng trong quản trị địa phương ở Việt Nam, khẳng định bản chất dân chủ và vai trò của nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương. Thực tiễn cho thấy dân chủ ngày càng được mở rộng nhưng vẫn còn hạn chế về mức độ tham gia, cơ chế bảo đảm và năng lực của chính quyền cơ sở. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao chất lượng cán bộ, mở rộng kênh đối thoại và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực.
 

Người dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, kiến nghị tại cuộc gặp mặt tiếp xúc đối thoại với Bí thư Tỉnh ủy. Nguồn: nhandan.vn

Mở đầu

Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương là yêu cầu cốt lõi của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền và chuyển đổi phương thức quản lý theo hướng hiện đại, dân chủ cơ sở trở thành yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả quản trị và củng cố niềm tin xã hội. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy dân chủ ở địa phương, làm rõ mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện mới. Qua đó, luận giải những hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện theo hướng tăng cường pháp lý, chuyển đổi số trong quản trị, nâng cao năng lực cán bộ, mở rộng kênh tham gia và giám sát của người dân để dân chủ được thực hiện thực chất và bền vững.

1. Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong quản trị địa phương

a) Khái niệm quyền làm chủ của nhân dân:

Quyền làm chủ của nhân dân là quyền cơ bản, hiến định, thể hiện vị trí của nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Quyền này bao gồm khả năng và điều kiện để người dân trực tiếp hoặc thông qua hình thức đại diện để tham gia quản lý nhà nước, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.

Điều 28, Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”1.

Dưới góc độ quản trị địa phương, quyền làm chủ của nhân dân được biểu hiện qua: i) Quyền tham gia vào việc bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng của cộng đồng, địa phương; ii) Quyền giám sát và phản biện đối với hoạt động của chính quyền, bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình và iii) Quyền thụ hưởng các dịch vụ công và lợi ích từ chính sách phát triển, thể hiện vai trò “dân là gốc” trong quản trị nhà nước.

Như vậy, quyền làm chủ của nhân dân vừa là giá trị dân chủ cơ bản, vừa là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân và vì lợi ích của nhân dân.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013”2.

Như vậy, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương là tổng thể các cơ chế, chính sách và biện pháp pháp lý, chính trị, xã hội nhằm tạo điều kiện thực chất để người dân thực hiện quyền tham gia, giám sát, phản biện và kiểm soát quyền lực đối với chính quyền địa phương.

b) Khái niệm quản trị địa phương

Ở Việt Nam, thời gian gần đây đã có nhiều nhà nghiên cứu khoa học đề cập đến khái niệm này. Tác giả Nguyễn Văn Cương khẳng định quản trị địa phương được thực hiện trên nguyên tắc tự quản địa phương, theo đó “cộng đồng dân cư địa phương được tự quyết định một cách thực chất việc giải quyết những công việc chung của cộng đồng địa phương trong khuôn khổ Hiến pháp và luật vì lợi ích chung của cộng đồng địa phương”3. Tác giả Đào Bảo Ngọc tiếp cận về quản trị địa phương trên cơ sở hoạt động tự quản địa phương, đó là “quyền và khả năng thực tế của các cơ quan tự quản địa phương được đưa ra các quyết định và quy định các công việc quốc gia, được quản lý các công việc đó trên cơ sở và trong khuôn khổ của pháp luật, tự chịu trách nhiệm và vì lợi ích của nhân dân địa phương. Quyền đó được thực hiện thông qua các hội đồng hay hội nghị gồm những người được bầu ra theo nguyên tắc bầu cử tự do, bỏ phiếu kín, bình đẳng, trực tiếp và phổ thông”4. Tác giả Ngô Sỹ Trung, trong sách “Quản trị địa phương” đã đưa ra khẳng định “Quản trị địa phương là hoạt động có tính chất tự quản các công việc của địa phương, trong đó có sự tham gia của người dân, các tổ chức xã hội vào quá trình ra quyết định của cơ quan chính quyền dựa trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật và sự tương tác giữa các thực thể tham gia”5.

Có thể thấy, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu, đề cập đến khái niệm này ở những khía cạnh khác nhau, theo cả nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên cơ bản thống nhất quan điểm quản trị địa phương là việc quản trị ở cấp địa phương không chỉ thuộc về bộ máy chính quyền còn thuộc về cả cộng đồng nói chung, bao gồm cả cơ quan chính quyền, người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đồng thời thể hiện rõ mối quan hệ tương tác giữa chính quyền, người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong quản trị nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Như vậy, có thể hiểu quản trị địa phương là việc quản trị ở cấp địa phương, có sự tham gia của chính quyền địa phương và của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội trên cơ sở tuân thủ pháp luật nhằm hướng đến lợi ích chung của cộng đồng.

Theo cách hiểu này thì quản trị địa phương là sự hướng đến xây dựng một chính quyền gần dân hơn, tạo điều kiện để người dân tham gia vào các công việc của địa phương ngày càng nhiều hơn, từ đó nhằm tăng cường tính trách nhiệm giải trình của lãnh đạo địa phương trong ban hành và thực thi các quyết sách của địa phương ở từng giai đoạn phát triển.

c) Ý nghĩa, nội dung, cơ chế và các điều kiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương

Quyền làm chủ của nhân dân thể hiện bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhân dân vừa là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, vừa là đối tượng phục vụ của chính quyền.

Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Một là, khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam: Quản trị địa phương gắn với quyền làm chủ của nhân dân cho thấy mọi quyết định đều dựa trên lợi ích và nguyện vọng của người dân.

Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị: Khi người dân tham gia vào quy trình ra quyết định, chính sách ban hành sát thực tế hơn, giảm tính áp đặt, tăng khả năng thực thi.

Ba là, tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình: Quyền giám sát và phản biện xã hội giúp hạn chế tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đồng thời buộc chính quyền các cấp hoạt động minh bạch hơn.

Bốn là, củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội: Nhân dân được tham gia, được lắng nghe và được hưởng lợi trực tiếp sẽ tạo nên sự gắn kết, đồng thuận và ổn định xã hội.

Năm là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững: Khi được phát huy, quyền làm chủ của nhân dân tạo động lực để khai thác trí tuệ, sáng kiến từ cộng đồng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Nội dung bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương thể hiện cụ thể ở một số khía cạnh sau:

Một là, sự tham gia: Người dân có quyền tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển địa phương thông qua bầu cử, trưng cầu ý dân, góp ý, phản biện xã hội hoặc thông qua các tổ chức chính trị - xã hội.

Hai là, sự giám sát: Nhân dân có quyền giám sát hoạt động của chính quyền địa phương, bảo đảm sự minh bạch, công khai, phòng chống tham nhũng và lạm quyền.

Ba là, sự thụ hưởng dịch vụ công: Người dân được bảo đảm quyền tiếp cận công bằng, hiệu quả đối với các dịch vụ công thiết yếu, phản ánh mức độ đáp ứng và trách nhiệm giải trình của chính quyền.

Bốn là, sự bình đẳng và bao trùm: Quyền làm chủ của nhân dân phải được bảo đảm cho mọi nhóm xã hội, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo hay điều kiện kinh tế.

Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản:

Một là, dân chủ đại diện, người dân ủy quyền cho đại biểu dân cử tại Hội đồng nhân dân các cấp thay mặt mình quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương.

Hai là, dân chủ trực tiếp: thực hiện thông qua các hình thức như trưng cầu ý dân, hội nghị nhân dân, hòm thư góp ý, các nền tảng số và cơ chế phản biện xã hội. Sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp tạo nên nền tảng vững chắc cho quản trị địa phương dân chủ, hiệu quả.

Để quyền làm chủ của nhân dân trở thành thực chất, cần có: Thể chế pháp lý đồng bộ, rõ ràng về cơ chế tham gia, giám sát, phản biện. Bộ máy chính quyền minh bạch, trách nhiệm giải trình cao. Bên cạnh đó, cần ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số để mở rộng kênh thông tin, nâng cao khả năng tiếp cận và tham gia của nhân dân. Điều không thể thiếu là năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân. Yếu tố xuyên suốt chính là sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm định hướng và hiệu quả thực thi dân chủ.

2. Thực trạng bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương ở Việt Nam

a) Những kết quả đạt được trong bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương ở Việt Nam

Trong những năm qua, việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực:

Thứ nhất, thể chế pháp lý ngày càng hoàn thiện

Trong tiến trình đổi mới quản trị nhà nước, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo khuôn khổ cho việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Việc ban hành, sửa đổi các đạo luật quan trọng cho thấy sự chuyển biến từ tư duy “quản lý hành chính - mệnh lệnh” sang “quản trị dựa trên pháp luật, dân chủ và đồng thuận xã hội”.

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025) là cơ sở pháp lý cao nhất, khẳng định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, ghi nhận quyền con người, quyền công dân là trung tâm của Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp trở thành nền tảng để các đạo luật cụ thể hóa cơ chế thực hiện dân chủ, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, định hình cơ cấu và phân quyền: Luật này quy định rõ tổ chức bộ máy chính quyền các cấp, phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương, tạo điều kiện cho chính quyền gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân hiệu quả hơn. Đồng thời Luật quy định theo hướng đổi mới quản trị địa phương: tăng cường tính tự chủ, trách nhiệm và minh bạch của chính quyền địa phương; mở rộng cơ chế để nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định, giám sát và phản biện các chính sách địa phương. Đây là công cụ pháp lý để hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân tại cơ sở, đưa dân chủ trở thành nền tảng trong hoạt động của chính quyền địa phương.

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được luật hóa, khắc phục tình trạng hình thức, nâng cao tính bắt buộc pháp lý. Quy định cụ thể về các hình thức để người dân tham gia (hội nghị nhân dân, lấy ý kiến, trưng cầu, giám sát cộng đồng, công khai minh bạch thông tin...). Những quy định này tạo công cụ trực tiếp để người dân thực thi quyền làm chủ tại cộng đồng dân cư, phát huy dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Tóm lại, các đạo luật trên đã bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, hình thành một khung thể chế pháp lý toàn diện cho việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân: Hiến pháp xác lập nguyên tắc và giá trị dân chủ. Luật Tổ chức chính quyền địa phương tạo cơ chế bộ máy để thực hiện dân chủ. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định phương thức, công cụ để nhân dân tham gia thực chất. Nhờ đó, người dân không chỉ là chủ thể trên danh nghĩa, mà còn có cơ chế pháp lý cụ thể để thực hiện, giám sát và bảo vệ quyền lực của mình, qua đó góp phần nâng cao chất lượng quản trị địa phương và củng cố niềm tin xã hội.

Thứ hai, cơ chế dân chủ trực tiếp được mở rộng

Các hình thức như đối thoại giữa chính quyền với nhân dân: được tổ chức thường xuyên hơn, giúp chính quyền nắm bắt trực tiếp tâm tư, nguyện vọng, đồng thời tạo diễn đàn để dân phản ánh, chất vấn và đề xuất. Việc tiếp xúc cử tri không chỉ còn là hoạt động báo cáo, mà trở thành kênh quan trọng để cử tri tham gia giám sát và phản ánh ý kiến về hiệu quả quản trị địa phương. Lấy ý kiến cộng đồng về các dự án phát triển, quy hoạch sử dụng đất, xây dựng hạ tầng, chính sách an sinh xã hội… được luật hóa, góp phần bảo đảm sự đồng thuận và hạn chế khiếu kiện, xung đột lợi ích. Ứng dụng công nghệ số: nhiều tỉnh, thành đã triển khai cổng thông tin điện tử, app di động, kênh tiếp nhận phản ánh qua mạng xã hội chính thống, giúp người dân tham gia nhanh chóng, thuận tiện và giảm chi phí.

Như vậy, sự mở rộng cơ chế dân chủ trực tiếp trong quản trị địa phương ở Việt Nam không chỉ nằm ở mặt số lượng hình thức, mà quan trọng hơn là nâng cao tính thực chất, gắn liền với cơ chế pháp lý ràng buộc và công nghệ hỗ trợ. Đây là một trong những bước tiến quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị - xã hội.

Thứ ba, hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới

Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong quản trị địa phương đã có nhiều đổi mới cả về nội dung, hình thức và cơ chế pháp lý bảo đảm. Đây là một kênh quan trọng để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu quả quản trị và củng cố niềm tin xã hội, góp phần nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý và điều hành. Cụ thể là:

Mở rộng nội dung giám sát: không chỉ tập trung vào lĩnh vực bầu cử, công tác cán bộ hay hoạt động của Hội đồng nhân dân, mà còn giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, quản lý đất đai, đầu tư công, giải quyết khiếu nại - tố cáo...

Đổi mới phương thức: bên cạnh giám sát trực tiếp, Mặt trận và các đoàn thể đã tăng cường sử dụng báo cáo độc lập, khảo sát xã hội học, hội nghị lấy ý kiến, và đặc biệt là kênh phản ánh qua môi trường số.

Nâng cao chất lượng phản biện xã hội: nhiều ý kiến phản biện của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội đã được tiếp thu trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách ở địa phương, góp phần hạn chế tính chủ quan, áp đặt từ phía chính quyền.

Tăng cường đối thoại: các hội nghị tiếp xúc, đối thoại ba bên (chính quyền - Mặt trận - nhân dân) được tổ chức định kỳ, tạo không gian trao đổi công khai, dân chủ và minh bạch.

Thứ tư, chất lượng cung ứng dịch vụ công được cải thiện

Chất lượng cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam đã có nhiều cải thiện rõ nét, đặc biệt nhờ cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ số. Tuy nhiên, để dịch vụ công thực sự trở thành nền tảng của quản trị hiện đại, cần tiếp tục nâng cao tính minh bạch, hiệu quả, đồng bộ và công bằng trong tiếp cận trên toàn quốc. Cụ thể là:

Cải cách thủ tục hành chính: nhiều thủ tục được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” được triển khai rộng rãi. Nhiều địa phương triển khai cổng dịch vụ công trực tuyến, tích hợp với ứng dụng di động và nền tảng thanh toán điện tử, giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ 24/7.

Đa dạng hóa chủ thể cung ứng: bên cạnh cơ quan nhà nước, một số dịch vụ công được xã hội hóa, huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, góp phần tăng tính cạnh tranh, giảm gánh nặng ngân sách. Nâng cao chất lượng các dịch vụ thiết yếu: giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp người yếu thế được chú trọng hơn, hướng tới nâng cao mức độ hài lòng của người dân. Nhiều tỉnh, thành áp dụng khảo sát định kỳ chỉ số SIPAS, PAR Index để đánh giá chất lượng dịch vụ công, từ đó có giải pháp điều chỉnh phù hợp.

Thứ năm, ý thức trách nhiệm của người dân ngày càng nâng cao

Biểu hiện của ý thức trách nhiệm của người dân được nâng cao được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Người dân chủ động tham gia góp ý chính sách, quy hoạch, dự án: người dân ngày càng quan tâm và mạnh dạn đóng góp ý kiến tại hội nghị nhân dân, tiếp xúc cử tri, tham vấn cộng đồng. Người dân tích cực giám sát và phản ánh: thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cả kênh công nghệ số, người dân phản ánh vi phạm, kiến nghị xử lý sai phạm, góp phần kiểm soát quyền lực.

Tinh thần tự quản và cộng đồng của người dân: tại nhiều địa phương, các mô hình “tổ dân phố tự quản”, “tuyến đường xanh - sạch - đẹp”, “camera an ninh” cho thấy người dân sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm cùng chính quyền. Trách nhiệm trong tuân thủ pháp luật và chính sách của người dân: tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế, nghĩa vụ thuế, chấp hành quy hoạch xây dựng, bảo vệ môi trường... ngày càng cao, phản ánh sự chuyển biến tích cực trong nhận thức công dân.

Ứng dụng công nghệ để thực hiện trách nhiệm công dân: nhiều người dân đã quen với việc nộp hồ sơ trực tuyến, phản ánh qua cổng dịch vụ công, qua đó giảm áp lực cho chính quyền và tăng hiệu quả quản trị. Ý thức trách nhiệm ngày càng nâng cao của người dân đã và đang trở thành một động lực quan trọng cho đổi mới quản trị địa phương. Người dân không chỉ là “người thụ hưởng” mà đã chuyển sang vai trò “người đồng kiến tạo”, cùng với chính quyền xây dựng một nền quản trị công khai, minh bạch, hiệu quả và bền vững.

b) Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương còn bộc lộ một số hạn chế:

Một là, sự tham gia của người dân chưa đồng đều: Một bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số còn hạn chế về thông tin, kiến thức và điều kiện tham gia quản trị địa phương. Điểm số về sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở qua các năm 2020 đến nay đều thấp, cụ thể năm 2020 là 4,86; năm 2021 là 4,7; năm 2022 là 5,05; năm 2023 là 4,9; năm 2024 là 5,016.

Hai là, một số cơ chế dân chủ còn mang tính hình thức: Các cuộc họp dân, lấy ý kiến cộng đồng đôi khi chưa thực chất, thiếu tính phản biện, chưa có cơ chế ràng buộc để ý kiến của nhân dân được xem xét nghiêm túc.

Ba là, trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương chưa cao: Thể hiện qua điểm số trách nhiệm giải trình với người dân ở Việt Nam qua các năm 2020 đến nay đều thấp, cụ thể năm 2020 là 4,91; năm 2021 là 4,32; năm 2022 là 4,3; năm 2023 là 4,24; năm 2024 là 4,297.

Bốn là, năng lực cán bộ cơ sở còn hạn chế: Một số cán bộ công chức chưa thực sự lắng nghe, chưa có kỹ năng tương tác với người dân, dẫn đến niềm tin xã hội bị ảnh hưởng.

Năm là, ứng dụng công nghệ số chưa đồng bộ: Dịch vụ công trực tuyến, cổng thông tin chính quyền nhiều nơi chưa thân thiện, chưa đáp ứng nhu cầu tương tác hai chiều với nhân dân.

Những hạn chế trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân như: một số quy định pháp luật còn thiếu cụ thể, chưa tạo cơ chế ràng buộc mạnh để ý kiến của nhân dân được thực thi; nguồn lực cho thực hiện dân chủ ở cơ sở còn hạn chế, nhất là tại địa bàn miền núi, nông thôn; nhận thức về quyền làm chủ của một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa đầy đủ, dẫn đến tình trạng dân chủ hình thức; quá trình chuyển đổi số trong quản trị địa phương chưa đồng đều, thiếu hạ tầng công nghệ và kỹ năng sử dụng của người dân. Xác định rõ được những nguyên nhân đó chính là cơ sở để chỉ ra những giải pháp hiệu quả nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương.

3. Giải pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương

Trong giai đoạn Việt Nam đang tinh gọn bộ máy, bước vào kỷ nguyên phát triển giàu có và thịnh vượng và đổi mới quản lý nhà nước, quản trị địa phương được coi là phương thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, đòi hỏi chính quyền hai cấp phải tăng cường tự chủ, nâng cao trách nhiệm giải trình và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định và giám sát, qua đó góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ và phát triển bền vững. Từ những hạn chế nêu trên có thể đưa ra một số giải pháp cụ thể sau nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương.

a) Hoàn thiện thể chế, pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Tiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, rõ ràng, minh bạch để nhân dân tham gia quản trị địa phương. Xây dựng cơ chế ràng buộc trách nhiệm giải trình của chính quyền trước ý kiến, kiến nghị và phản biện của nhân dân. Hoàn thiện quy định về công khai, minh bạch ngân sách, quy hoạch, đầu tư công, quản lý đất đai và dịch vụ công. Việc hoàn thiện thể chế phải bảo đảm sự thống nhất giữa quyền lực nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương, coi người dân là chủ trung tâm của quá trình quản trị.

b) Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong quản trị địa phương

Phát triển các nền tảng số thân thiện, dễ sử dụng để người dân tham gia góp ý, phản ánh, giám sát. Mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cổng thông tin chính quyền mở để người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện. Tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ, đào tạo kỹ năng số cho cán bộ và cộng đồng, nhất là vùng sâu, vùng xa. Theo đó, sự thay đổi tư duy chuyển đổi số là rất quan trọng vì chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn mở rộng không gian dân chủ để người dân có thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin, tự do ngôn luận... Tuy nhiên phải phát triển công nghệ trong quản trị địa phương phải gắn liền với hoạt động bảo đảm an ninh mạng, dữ liệu cá nhân của công dân.

c) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dân vận, kỹ năng đối thoại, giải quyết khiếu nại, phản ánh của người dân cho đội ngũ cán bộ cơ sở. Đề cao trách nhiệm nêu gương, liêm chính, phục vụ nhân dân; xử lý nghiêm các hành vi quan liêu, nhũng nhiễu, thiếu minh bạch. Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín để thực sự là “công bộc của dân”. Điều này đặt ra đòi hỏi cần có cơ chế để đánh giá minh bạch, dựa trên mức độ hài lòng của người dân đối với cán bộ, công chức.

d) Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

Tăng cường giám sát, phản biện xã hội đối với chính sách và hoạt động của chính quyền địa phương. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền, kịp thời phản ánh ý kiến, nguyện vọng của các tầng lớp xã hội. Cần đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội để tiếp cận gần dân hơn, nhất là đối với các nhóm yếu thế như thanh niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số.

e) Mở rộng và đa dạng hóa các kênh tham gia của nhân dân

Tổ chức định kỳ đối thoại công khai giữa chính quyền và người dân, phát huy hiệu quả tiếp xúc cử tri, hội nghị nhân dân. Khuyến khích sự tham gia của người dân thông qua các tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội, nhóm cộng đồng. Xây dựng cơ chế để ý kiến, sáng kiến của người dân thực sự được tiếp thu, lồng ghép trong quyết sách địa phương. Việc tham vấn thường xuyên, đa chiều với hình thức trực tiếp, trực tuyến được triển khai có thể tăng sự tham gia thực chất của người dân vào hoạch định và giám sát chính sách, tạo hiệu quả quản trị và tính đồng thuận xã hội.

f) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực

Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với quản trị địa phương, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn lạm quyền, tham nhũng. Thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” một cách thực chất. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng gần dân, trọng dân, dựa vào dân để xây dựng và phát triển địa phương bền vững. Việc kiểm soát quyền lực gắn liền với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, Đảng viên là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin của người dân và xây dựng nền quản trị liêm chính, minh bạch.

Kết luận

Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương ở Việt Nam vừa là nguyên tắc hiến định, vừa là yêu cầu thực tiễn nhằm xây dựng một nền quản trị dân chủ, minh bạch và hiệu quả. Thực tiễn thời gian qua cho thấy quyền tham gia, giám sát và thụ hưởng của nhân dân đã ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn không ít hạn chế về thể chế, năng lực cán bộ, cơ chế tham gia và mức độ giải trình, khiến cho việc thực thi dân chủ ở cơ sở chưa thực sự toàn diện và thực chất.

Trong bối cảnh đổi mới quản trị quốc gia, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số mạnh mẽ, việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân cần được coi là động lực trung tâm để củng cố niềm tin xã hội, tăng cường sự đồng thuận, thúc đẩy phát triển bền vững. Do đó, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cán bộ, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, cùng với sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực là những giải pháp then chốt nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị địa phương hiện nay.

Lê Thị Thắm

Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 49 (10/2025)

---

Tài liệu trích dẫn

(1)   Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013.

(2) Nguyễn Văn Cương (2016), "Kinh nghiệm quốc tế về quản trị đìa phương và một số gợi ý vể việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản trị địa phương cho Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Quản trị địa phương: Lý luận, thực tiễn của Pháp và Việt Nam, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.

(3) Đào Bảo Ngọc (2013), "Mô hình quản trị địa phương của một số quốc gia châu Âu", Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 159, tháng 12-2013.

(4) Ngô Sỹ Trung (2019), “Quản trị địa phương”, sách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội .

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 71.

(6) Nguồn: https://papi.org.vn/bao-cao/.

(7) Nguồn: https://papi.org.vn/bao-cao/.