Lý thuyết bảo vệ “người dễ bị tổn thương” được hình thành, phát triển bởi học giả Martha Fineman. Dưới góc độ nghiên cứu, nội dung của lý thuyết này đề xuất rằng sự dễ bị tổn thương là một phần bản chất của con người, và do đó, Nhà nước nên có trách nhiệm bảo đảm rằng tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận bình đẳng các quyền, và được bảo vệ một cách đúng đắn và đầy đủ. Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này, nhóm tác giả nghiên cứu lý thuyết, đồng thời, phân tích một số bất cập của Luật Việc làm năm 2013 từ đó vận dụng nội dung của lý thuyết như “tiêu chí xác định nhóm người dễ bị tổn thương”, “phương thức bảo đảm quyền cho nhóm người này”...; đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện nội dung của Dự thảo Luật Việc làm sửa đổi.

Ảnh minh họa. Nguồn: tapchikinhtetaichinh.vn

1. Đặt vấn đề

Trong lĩnh vực Luật Việc làm, một trong những vấn đề được nhà lập pháp chú trọng chính là “mở rộng độ bao phủ, điều chỉnh các chính sách lao động, việc làm đến toàn bộ lực lượng lao động (đối tượng lao động có giao kết hợp đồng lao động và không có giao kết hợp đồng lao động). Luật cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng các chính sách hỗ trợ người lao động, đặc biệt có nhóm lao động yếu thế, lao động nghèo, lao động nông thôn, người thất nghiệp và tăng cường cơ hội việc làm cho lao động khu vực phi chính thức.[1]”. Đồng thời, Điều 2 Dự thảo 2 Luật Việc làm thể hiện “Luật này áp dụng đối với người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc làm”. Vậy, có thể thấy, đối tượng “con người” là trọng tâm xây dựng Dự thảo, vì có thể suy luận rằng, chỉ có “con người” là chủ thể cần tạo điều kiện để thực hiện quyền có việc làm, chính điều này là tiền đề để “tồn tại” và “phát triển”. Xét dưới góc độ quyền, có thể xem đây là quyền tự nhiên của con người, Nhà nước chỉ kế thừa và phát triển nhằm mục đích cao cả của một quyền tự nhiên.

Trong đối tượng “con người” – chủ thể trong Luật Việc làm, không phải bất kỳ chủ thể nào cũng có khả năng tiếp cận được quyền có việc làm bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, và một trong những lý do đó chính là “họ” “sở hữu” đặc điểm của một chủ thể được xem là “người dễ bị tổn thương”[2]. Đó cũng là một trong nhiều nguyên nhân mà ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng có những chính sách liên quan đến vấn đề an sinh xã hội.

Chính từ những lẽ đó, việc nghiên cứu, phân tích và đưa ra đánh giá liệu rằng Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương có tác động, hiện diện trong quá trình lập pháp của Dự thảo hay không?

2. Tổng quan về lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương

Sự khó khăn trong việc xác định nội hàm “Người dễ bị tổn thương”: Có thể khẳng định, một số công trình nghiên cứu hiện nay đều sử dụng thuật ngữ “người yếu thế” đơn cử có thể kể đến một số công trình sau:

Tác giả Phan Thị Lan Hương cho rằng “Một số đối tượng như: người nhiễm HIV, phụ nữ bán dâm, phụ nữ hay trẻ em là nạn nhân của bạo lực, người sử dụng ma túy, người đồng tính.... Tuy nhiên, có phải rằng những chủ thể trên mặc nhiên được xem vào đối tượng là nhóm yếu thế không? Điều đáng quan tâm là tác giả sử dụng thuật ngữ “nhóm yếu thế” để diễn đạt. Liệu rằng, thuật ngữ này có nội hàm tương tự với thuật ngữ “nhóm người dễ bị tổn thương” hay không? (những điều này sẽ được biện giải  ở phần tiếp theo). Tiếp đến, tác giả này đề cập đến ba đặc điểm giúp nhận diện được nhóm người yếu thế, bao gồm: (i) nhóm yếu thế là nhóm đối tượng gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực hay các dịch vụ thiết yếu của xã hội; (ii) nhóm yếu thế thường bị hạn chế trong việc thực hiện các quyền hay tìm kiếm các biện pháp bảo vệ do những rào cản, sự kỳ thị, phân biệt đối xử hay khó khăn về tài chính, và (iii) nhóm yếu thế là nhóm có nguy cơ hay rủi ro cao bị xâm hại quyền hay bị bóc lột, kỳ thị, ngược đãi và bạo lực[3].

Tiếp cận cụ thể hơn, tác giả Tưởng Duy Lượng cho rằng “Theo một nghĩa chung nhất thì những đối tượng được coi là người yếu thế là những đối tượng mà trong những hoàn cảnh giống nhau khi tham gia vào một quan hệ xã hội, quan hệ lao động, quan hệ pháp luật những đối tượng này luôn gặp những bất lợi hơn so với những đối tượng khác trong cùng một hoàn cảnh. Nói cách khác, những đối tượng này phải thực hiện theo một cách hoàn toàn bất lợi với họ trong quan hệ đó.[4]”.  Có thể thấy, tác giả này đã có góc nhìn tổng quan hơn khi cho rằng muốn xác định được một nhóm người yếu thế cần thiết đặt nhóm người đó vào một quan hệ pháp luật nhất định. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng “ không phải những nhóm người mà xã hội coi là yếu thế mới bị yếu thế và cũng không đồng nhất khi họ thuộc nhóm người được coi là yếu thế sẽ luôn yếu thế[5]”.

Khảo cứu những công trình nghiên cứu nước ngoài, các học giả ít sử dụng thuật ngữ “người yếu thế”, thay vào đó, các công trình nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “người dễ bị tổn thương”[6] (vulnerable groups). Các học giả Limantė, A., Теrеškinas, A. cho rằng “Việc định nghĩa các khái niệm ‘tính dễ bị tổn thương’ và ‘nhóm dễ bị tổn thương’ là một thách thức, vì tính dễ bị tổn thương là một khái niệm đa chiều được sử dụng với cả ý nghĩa phổ quát và cụ thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau, và hơn nữa có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau[7]”. Việc sử dụng thuật ngữ “dễ bị tổn thương” trong các phán quyết tại tòa án ở các quốc gia trên thế giới khá nhiều, đơn cử như tại Tòa án Nhân quyền tại Châu Âu[8]. Tuy nhiên, các học giả phần lớn thừa nhận rằng “dễ bị tổn thương là một khái niệm đầy mâu thuẫn. Trước tiên, khái niệm này đang được sử dụng rộng rãi nhưng ý nghĩa của nó thì không rõ ràng và có sự tranh cãi. Các nhà học thuật từ nhiều lĩnh vực khác nhau đã sử dụng nhiều từ như “rối rắm”, “phức tạp”, “mơ hồ” và “mơ hồ” để chỉ ra sự khó khăn trong việc định nghĩa và hiểu rõ khái niệm này”.[9]

Quan điểm của Giáo sư Martha Albertson Fineman về Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương: Khi đề cập đến lý thuyết này, không thể  bỏ qua quan điểm của Giáo sư Martha Albenrtson Fineman, bà được đánh giá là một trong những học giả  tiên phong đặt nền móng và phát triển  toàn diện học thuyết này[10].

Giáo sư  cho rằng mặc dù sự dễ tổn thương là một phần cơ bản và phổ quát của điều kiện con người, nhưng cần phải hiểu sự dễ tổn thương một cách cụ thể, đa dạng và độc nhất ở cấp độ cá nhân[11]. Mặc dù, giới nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận liên quan đến nhóm đối tượng này, đơn cử như có quan điểm cho rằng nếu mặc nhiên “gắn nhãn” cho một số chủ thế nhất định, và tuỳ vào mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, mà các công trình khác nhau tiếp cận những nhóm chủ thể khác nhau ở mỗi lĩnh vực.  Trong nghiên cứu của mình, Martha Fineman tập trung vào các quy trình xã hội tạo ra sự dễ bị tổn thương và trách nhiệm của Nhà nước và các thể chế nhằm  việc giảm thiểu các rủi ro và hậu quả của sự dễ bị tổn thương. Do đó, bà lập luận rằng “phân tích sự dễ bị tổn thương phải xem xét cả vị trí cá nhân và các mối quan hệ thể chế[12].  Bà từng khẳng định “Tình trạng dễ tổn thương  nên được hiểu là - điều phổ quát và liên tục, vốn có trong bản chất con người. Cách tiếp cận về tình trạng dễ tổn thương mà tôi đề xuất là một sự thay thế cho phân tích bảo vệ bình đẳng truyền thống; đây là một phương pháp ‘hậu danh tính’, không chỉ tập trung vào phân biệt đối xử chống lại các nhóm đã xác định, mà còn quan tâm đến sự ưu ái và đặc quyền mà Nhà nước và xã hội rộng lớn hơn dành cho một số nhóm nhỏ trong dân số thông qua các tổ chức của họ. Vì vậy, phân tích tình trạng dễ tổn thương tập trung vào các cấu trúc mà xã hội của chúng ta đã và sẽ thiết lập để quản lý các tình trạng dễ tổn thương chung. Cách tiếp cận này có tiềm năng đưa chúng ta ra khỏi những khuôn khổ phân biệt đối xử hiện tại và tiến tới một tầm nhìn về bình đẳng có ý nghĩa hơn.17

Chính vì những lẽ trên, nhóm tác giả cho rằng không cần thiết để xác định nội hàm của thuật ngữ trên, thay vào đó, xác định đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương thông qua đặc điểm nhằm xác định được nhóm chủ thể này.

Thứ nhất, việc xác định chủ thể trong một quan hệ xã hội cụ thể là rất quan trọng. Đây có thể xem là tiêu chí đầu tiên để nhận diện, bởi không phải bất cứ ai mà xã hội coi là yếu thế đều thực sự yếu thế trong mọi tình huống[13]. Cần đặt chủ thể trong mối quan hệ cụ thể để xem xét liệu họ có phải là người yếu thế hay không. Ví dụ như trong quan hệ lao động, người lao động thường được coi là yếu thế so với người sử dụng lao động. Do đó, việc nhận diện người yếu thế phải được thực hiện dựa trên mối quan hệ xã hội cụ thể mà chủ thể đang tham gia.

Thứ hai, chủ thể được xem là người yếu thế phải có tính dễ bị tổn thương19. Tính dễ bị tổn thương được hiểu là khả năng bị suy giảm (suy giảm về thể chất, tinh thần, năng lực, khía cạnh nào của việc suy giảm) của một cá nhân hoặc một nhóm trong việc dự đoán, ứng phó, chống lại và phục hồi sau tác động nhất định[14]. Tính dễ bị tổn thương này là phổ biến và thường xuyên - một khía cạnh thiết yếu và không thể thay đổi được của con người[15]. Thực tế, tùy thuộc vào chủ thể cụ thể và quan hệ xã hội cụ thể mà xác định tính dễ bị tổn thương của từng chủ thể đó. Hiện nay, một số nghiên cứu đã chia thành 16 nhóm đối tượng có tiêu chí “tính dễ bị tổn thương”, và các nhóm này xuất hiện trong nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, được coi là “người yếu thế”[16]. Cũng có quan điểm trái ngược khi cho rằng việc xác định “tính dễ bị tổn thương” cần phải xác định dựa trên ba yếu tố, bao gồm: (i) mang tính quan hệ, (ii) cụ thể và (iii) dựa trên tác hại[17]. Về yếu tố thứ (i) và (ii), có thể nhận thấy, hai yếu tố này thực chất thuộc phạm trù của tiêu chí thứ nhất mà chúng tôi đã phân tích. Bởi lẽ, “tính quan hệ” và “cụ thể” được xác định là “khả năng dễ bị tổn thương của cá nhân với môi trường xã hội hoặc thể chế, môi trường bắt nguồn hoặc duy trì khả năng dễ bị tổn thương[18]”, vậy có thể hiểu, khả năng dễ bị tổn thương được gắn với môi trường hay quan hệ xã hội nhất định. Vì vậy, theo tiêu chí này, chúng tôi cho rằng “tính dễ bị tổn thương” có mối liên hệ mật thiết với “hệ quả” từ môi trường xung quanh, có thể là những hành vi “tấn công”, “đe dọa tấn công” hoặc bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác trong mối quan hệ xã hội cụ thể. Nói cách khác, các hành vi này có thể tác động đến “thể chất, cảm xúc hoặc tinh thần” của cá nhân.

Triển vọng trong việc sử dụng Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương trong quá trình “lập pháp”: Chúng ta đều biết rằng, Nhà nước thực hiện chức năng của mình thông qua nhiều phương thức, hoạt động khác nhau. Trong đó, thực hiện chức năng xây dựng pháp luật[19] – và đây được gọi là hoạt động lập pháp. Cùng với đó, pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của các giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội[20]. Thêm vào đó, trong một xã hội nhất định sẽ tồn tại nhiều quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau (tạm gọi là tồn tại nhiều nhóm quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của một/một số lĩnh vực pháp luật nhất định), và trong các nhóm quan hệ xã hội đó, không và không thể tồn tại các chủ thể bình đẳng một cách tự nhiên, mà chỉ có thể nhờ pháp luật để bảo đảm được “sự bình đẳng” của các chủ thể - mà chúng ta có thể gọi là “sự bình đẳng bởi luật”. Điều này được khẳng định bởi Giáo sư Martha Albertson Fineman, khi cho rằng “Tình trạng dễ tổn thương  nên được hiểu là - điều phổ quát và liên tục, vốn có trong bản chất con người”…. Cùng với đó, luận điểm trung tâm của lý thuyết về tính dễ bị tổn thương của Fineman là tất cả con người dễ bị tổn thương và dễ bị phụ thuộc (tất cả hoặc từng giai đoạn), do đó Nhà nước có nghĩa vụ tương ứng là giảm thiểu, cải thiện và bù đắp cho điểm yếu đó[21].

Từ những lẽ trên, thiết nghĩ rằng, Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, biến đổi phù hợp dựa trên tinh thần của Lý thuyết để vận dụng vào quá trình lập pháp của bất kỳ Nhà nước nào, trong đó Việt Nam cũng không ngoại lệ. Đơn cử như Hoa Kỳ, Chính phủ đã từng bị chỉ trích vì chính sách pháp luật được xây dựng dựa trên cách tiếp cận “bình đẳng hình thức”, không đạt được bình đẳng thực chất. “Phê phán chính của chỉ trích này là cách tiếp cận bình đẳng hình thức không đạt được bình đẳng thực chất: khi các nhóm xã hội có những lợi thế và bất lợi đã tồn tại khác nhau, việc chỉ áp dụng cùng một quy định pháp lý cho các nhóm đó thường tạo ra kết quả không bình đẳng. Do đó, việc đối xử như nhau theo pháp luật không đảm bảo bình đẳng xã hội28.

Luận điểm chính của lý thuyết dễ bị tổn thương của Fineman là tất cả con người đều có thể gặp phải tình trạng dễ bị tổn thương và phụ thuộc (dù là lâu dài hay tạm thời). Vì vậy, Nhà nước có trách nhiệm phải giảm thiểu, cải thiện, và bù đắp cho những tình trạng dễ bị tổn thương đó. Fineman cho rằng việc chỉ đơn thuần áp dụng nguyên tắc bình đẳng không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cá nhân trong một thế giới mà không ai có thể đảm bảo không gặp phải chấn thương, bệnh tật, hay các sự kiện bất lợi khác trong cuộc sống là không công bằng và không hợp lý.

Như những phân tích trên, tác giả Martha Albertson Fineman cho rằng việc lập pháp cần chú ý những nội dung sau đây:

Một là, đối với người dễ bị tổn thương: Lý thuyết trên khẳng định phải đặt trong một quan hệ xã hội cụ thể, đồng thời, phải “sở hữu” tính dễ bị tổn thương.

Hai là, nghĩa vụ của Nhà nước: Phải xây dựng chính sách pháp luật điều chỉnh, hướng đến sự bình đẳng thực chất, đảm bảo vấn đề an sinh xã hội. Một trong những công cụ hiểu quả chính là nghiên cứu, áp dụng Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương. Điều cần chú ý ở đây chính là góc nhìn “bất kỳ một cá nhân nào cũng có thể trở thành chủ thể dễ bị tổn thương” khi giáo sư Martha Albertson Fineman cho rằng “tính dễ bị tổn thương là vốn có trong bản chất con người”. Chính vì lẽ đó, cần thiết thay đổi góc nhìn lập pháp, cụ thể: không xác định cụ thể một nhóm đối tượng và từ đó “thiết lập” những quy định mang tính bảo vệ quyền lợi của nhóm này, thay vào đó, quy định trong một quan hệ pháp luật cụ thể với những đặc điểm được xem là “tính dễ bị tổn thương”, nếu chủ thể nào đáp ứng thì được xem xét áp dụng những quy định đó nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

3. Luật Việc làm: Một số bất cập và khuyến nghị xây dựng Dự thảo đặt trong bối cảnh ảnh hưởng bởi Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương

a) Vai trò của Luật Việc làm trong bối cảnh đảm bảo vấn đề an sinh xã hội

 Theo nghĩa hẹp, “an sinh xã hội là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa...[22]  Cùng với đó, bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác[23]. Từ những lẽ trên, có thể nhận thấy Luật Việc làm đóng vai trò quan trọng trong vấn đề đảm bảo an sinh xã hội, bởi lẽ, luật này quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm” (Điều 1 Luật Việc làm năm 2013). Không chỉ riêng tại Việt Nam, mà có nhiều quốc gia trên thế giới khẳng định vấn đề này, đơn cử như tại Trung Quốc, Chương II Luật Lao động năm 1995 quy định các vấn đề cơ bản về việc làm, như vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương (Điều 10, Điều 11) và các nguyên tắc cấm phật biệt đối xử của những chủ thể trong lao động như người khuyết tật, dân tộc thiểu số,… (Điều 13, 14 và 15)[24].

Chính vì những lẽ trên, đã từng có quan điểm đặt ra việc “nghi ngờ” trong việc xác định quan hệ lao động thuộc quan hệ hành chính – lao động hay dân sự - lao động[25]. Vấn đề được đặt ra là hợp lý, đơn cử như Luật Việc làm, thực chất mang bản chất định hướng của Nhà nước, vai trò điều tiết, và định hướng nguyên tắc trong các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo vấn đề việc làm. Xuất phát từ quan hệ hành chính – việc làm, Nhà nước mới có những biện pháp thúc đẩy, và bảo đảm việc làm cho bất kỳ chủ thể nào trong xã hội.

b) Một số bất cập của Luật Việc làm năm 2013 hiện hành

Dưới góc nhìn của Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương của Martha Albertson Fineman, Luật Việc làm năm 2013 của Việt Nam tồn tại một số bất cập, hạn chế nhất định:

Thứ nhất, Luật việc làm năm 2013 không quy định rõ ràng về nhóm đối tượng dễ bị tổn thương

Fineman chỉ ra rằng, việc xác định cụ thể một nhóm đối tượng dễ bị tổn thương có thể bỏ sót nhiều cá nhân gặp phải tình trạng dễ bị tổn thương trong các hoàn cảnh đặc biệt. Luật Việc làm năm 2013 chủ yếu quy định các chính sách cho những nhóm đối tượng đã được nhận diện rõ ràng “sở hữu” đặc điểm của tính dễ bị tổn thương từ các yếu tố lâu dài như khuyết tật hay thất nghiệp, nhưng không nhận diện linh hoạtxây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp để mở rộng bảo vệ cho những người gặp khó khăn tạm thời hay ngắn hạn từ những sự kiện không lường trước như bệnh tật đột ngột, mất mát gia đình, hoặc tai nạn lao động. Điều này làm hạn chế khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ cho những nhóm người lao động này.

Ví dụ: một người lao động bị chấn thương hoặc bệnh tật không thuộc diện lao động khuyết tật theo quy định của luật, nhưng họ vẫn cần sự hỗ trợ tạm thời để vượt qua tình trạng này, chẳng hạn như chế độ nghỉ bệnh có lương, điều kiện làm việc linh hoạt, hoặc các chính sách tái hòa nhập thị trường lao động sau khi hồi phục. Tuy nhiên, luật lại không bao gồm các biện pháp cụ thể cho những tình huống này. Điều này tương đối dễ hiểu khi mục đích lập pháp của Luật Việc làm năm 2013 thực chất chỉ mang tính chất định hướng, nền tảng cho những văn bản pháp luật khác có liên quan.

Thứ hai, thiếu sự chú trọng đến bối cảnh xã hội của người lao động

Luật Việc làm năm 2013 không thực sự đặt người lao động trong bối cảnh xã hội cụ thể để nhận diện rõ ràng tình trạng dễ bị tổn thương của họ, thay vào đó, ấn định mặc nhiên những chủ thể được xác định thông qua việc quy định nguyên tắc “phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp” và từ nguyên tắc này, dẫn chiếu đến các văn bản có liên quan để cụ thể hoá nguyên tắc này.

Đơn cử như đối với lao động nữ, Bộ luật lao động năm 2019 mặc dù có xác định trong quan hệ lao động cụ thể, nếu người lao động nữ mang thai có thể được bảo vệ trong một số trường hợp như được ưu tiên giao kết hợp đồng mới nếu trong thời gian mang thai hợp đồng lao động hết hạn (khoản 3 Điều 137),… Tuy nhiên, các quy định về bảo vệ lao động nữ chưa thể bao quát cho những lao động nữ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi con một mình, hoặc những người thuộc nhóm thiểu số. Điều này gây ra sự thiếu sót trong việc bảo vệ những người lao động có nhu cầu bảo vệ đặc biệt mà lý thuyết của Fineman nhấn mạnh cần phải thay đổi góc nhìn trong hoạt động lập pháp. Đến Dự thảo hiện nay, đơn cử khi tiếp cận khoản 1 Điều 9 có thể nhận thấy các nhà lập pháp tiếp tục “theo đuổi” dưới góc nhìn tương tự như các “phiên bản” Luật Việc làm trước đây, khi quy định cấm “Phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc, độ tuổi, tình trạng thai sản, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, chính kiến, khuyết tật, xu hướng tình dục”.

Thêm vào đó, thực tế đã có công trình nghiên cứu từng khẳng định “cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động đến một số tiêu chí hoàn thiện pháp luật về việc làm cho người lao động nữ…. cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra hiệu ứng ‘phân cực việc làm – Job polarlization’, chính về sự thay đổi về việc làm trong thời gian tới kéo theo sự thay đổi của pháp luật về việc làm của lao động nữ hướng tới hạn chế tối đa tình trạng thất nghiệp của lao động nữ cũng như đảm bảo lao động nữ có thể thích nghi với những ngành nghề mới hoặc ngành nghề cũ nhưng đòi hỏi kỹ năng mới[26]”. Với góc nhìn này mặc dù nhóm tác giả không tiếp cận theo Lý thuyết kể trên, tuy nhiên, cách mạng công nghiệp 4.0 có thể được xem là bối cảnh xã hội, tác động đến những chủ thể bên trong đó và người lao động nói chung, người lao động nữ nói riêng (bất kể là người dễ bị tổn thương hay người lao động “không” dễ bị tổn thương như Luật Việc làm hiện nay xác định) đều có thể bị ảnh hưởng, và hướng lập pháp hiện nay chưa dự liệu được biện pháp bảo vệ nhóm người lao động “không” dễ bị tổn thương.

Thứ tư, thiếu các quy định linh hoạt đáp ứng sự thay đổi tình trạng dễ bị tổn thương

Luật Việc làm năm 2013 chưa phát triển các công cụ pháp lý linh hoạt đủ để điều chỉnh tình trạng dễ bị tổn thương trong môi trường lao động đang biến đổi nhanh chóng như hiện nay. Fineman cho rằng sự dễ bị tổn thương của con người có thể thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh, vì vậy luật pháp cần có khả năng điều chỉnh nhanh chóng và phù hợp với tình hình thực tế. Khi xảy ra các biến cố như đại dịch, khủng hoảng kinh tế, hoặc thiên tai, rất nhiều lao động bị ảnh hưởng và trở nên dễ bị tổn thương. Luật Việc làm năm 2013 chưa có các quy định rõ ràng về cách thức điều chỉnh chính sách lao động trong tình trạng khẩn cấp hoặc đáp ứng nhu cầu khẩn cấp của người lao động trong các tình huống bất thường này.

c) Khuyến nghị xây dựng Dự thảo đặt trong bối cảnh ảnh hưởng bởi Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương

Như đã phân tích và đề cập, các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Việc làm năm 2013, hay Dự thảo Luật Việc làm hiện nay đều tiếp cận theo mô hình cũ, chưa thực sự chịu sự ảnh hưởng một cách rõ nét của Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương. Tựu trung lại, điều quan trọng nhất chính là nghiên cứu Lý thuyết kể trên một cách chuyên sâu, ứng dụng một số nội dung hợp lý và phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, từ đó các nhà lập phần cần thiết thay đổi góc nhìn lập pháp để có thể thực hiện tốt mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội thông qua vấn đề việc làm trong bối cảnh mới như hiện nay

Kết quả nghiên cứu này giúp các cơ quan có thẩm quyền, những chủ thể trong hoạt động lập pháp cần thiết nghiên cứu Lý thuyết bảo vệ người dễ bị tổn thương một cách chuyên sâu, dự báo khả năng và tính thực tiễn khi ứng dụng lý thuyết này vào trong hoạt động lập pháp./.

Đào Tấn Anh

Học viên, Học viện Tư pháp

Nguyễn Ý Quyết

Học viên Cao học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Tạp chí Tuyên giáo (2024), Luật Việc làm sửa đổi hướng tới 4 nhóm chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực – [https://www.tuyengiao.vn/luat-viec-lam-sua-doi-huong-toi-4-nhom-chinh-sach-nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-147884], truy cập ngày 25/3/2025.

[2] Vấn đề này sẽ được phân tích cụ thể tại nội dung bên dưới bài viết.

[3] Phan Thị Lan Hương, Bảo đảm quyền của nhóm yếu thế: khoảng trống pháp lý và khuyến nghị cho Việt Nam, Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2020, tr. 15-16.

[4] Tưởng Duy Lượng, “Bảo đảm quyền lợi cho người yếu thế trong quan hệ hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 21, 2019.

[5] Tưởng Duy Lượng, “Bảo đảm quyền lợi cho người yếu thế trong quan hệ hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 21, 2019.

[6] Tham khảo một số công trình như: Pūraitė-Andrikienė, D. (eds) Legal Protection of Vulnerable Groups in Lithuania, Latvia, Estonia and Poland. European Union and its Neighbours in a Globalized World, vol 8. Springer, Cham. https://doi.org/10.1007/978-3-031-06998-7_1 ; Masferrer, A., García-Sánchez , E. (eds) Human Dignity of the Vulnerable in the Age of Rights. Ius Gentium: Comparative Perspectives on Law and Justice, vol 55. Springer, Cham. https://doi.org/10.1007/978-3-319-32693-1_1 ;...

[7] Limantė, A., Теrеškinas, A, Definition of Vulnerable Groups. In: Limantė, A., Pūraitė-Andrikienė, D. (eds) Legal Protection of Vulnerable Groups in Lithuania, Latvia, Estonia and Poland. European Union and its Neighbours in a Globalized World, vol 8, 2022. Springer, Cham. https://doi.org/10.1007/978-3-031-06998-7_1

[8] Lourdes Peroni, Alexandra Timmer (2013), Vulnerable groups: The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law, International Journal of Constitutional Law, Volume 11, Issue 4, October 2013, Pages 1056–1085, https://doi.org/10.1093/icon/mot042

[9] Lourdes Peroni, Alexandra Timmer (2013), Vulnerable groups: The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law, International Journal of Constitutional Law, Volume 11, Issue 4, October 2013, Pages 1056–1085, https://doi.org/10.1093/icon/mot042

[10] Có thể tìm đọc và tham khảo: In Tribute to Professor Martha Albertson Fineman: A Special Edition of the Emory Law Journal is Published at [https://scholarlycommons.law.emory.edu/elj/vol67/iss6/, truy cập ngày???].

[11] Linda C. McClain (2018), Formative Projects, Formative Inflfluences: Of Martha Albertson Fineman and Feminist, Liberal, and Vulnerable Subjects, Emory Law Journal, Volume 67, Issue 6, page 1200.

[12] Fineman, M. A, “The vulnerable subject and the responsive state”, Emory Law Journal,  Emory Public Law Research Paper, No. 10-130, 2010, page 269.

[13] Tưởng Duy Lượng (2019), Bảo đảm quyền lợi cho người yếu thế trong quan hệ hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 21.

[14] Xem thêm tại: Vulnerability criteria 2014 – Nguồn: [https://sheltercluster.s3.eu-central-1.amazonaws.com/public/docs/Vulnerability%20Criteria.pdf], truy cập ngày 10/10/2023.

[16] 16 nhóm đối tượng bao gồm: (i) Single elderly; (ii) Elderly headed household; (iii) Pregnant woman; (iv) Lactating mother; (v) Female solo parent/ female headed household; (vi) Women or girls at risk of exploitation/abuse; (vii)  Child-headed household; (viii) Child mother; (ix) Unaccompanied child; (x) Separated child; (xi) Out of school children and youth (OSCY’s); (xii) Person/child with disability; (xiii) Single person with disability; (xiv) Person with mental ill health; (xv) Persons identifying as Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender or Intersex (LGBTI); (xvi) Men who have Sex with Men (MSM). Xem thêm tại: Vulnerability criteria 2014 – Nguồn: [https://sheltercluster.s3.eu-central-1.amazonaws.com/public/docs/Vulnerability%20Criteria.pdf], truy cập ngày 26/03/2025.

[17] Lourdes Peroni, Alexandra Timmer, Vulnerable groups: The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law, International Journal of Constitutional Law, Volume 11, Issue 4, October 2013, Pages 1056–1085.

[18] Lourdes Peroni, Alexandra Timmer, Vulnerable groups: The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law, International Journal of Constitutional Law, Volume 11, Issue 4, October 2013, Pages 1056–1085.

[19] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. CAND, 2006, Hà Nội, tr. 49.

[20] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. CAND, 2006, Hà Nội, tr. 66.

[21] Nina A. Kohn (2014), “Vulnerability Theory and the Role of Government”, Yale Journal of Law and Feminism, Vol. 26:1.2014, page. 05.

[22] Vũ Văn Phúc (2012), An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Cộng sản – Truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/15184/an-sinh-xa-hoi-o-nuoc-ta--mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien.aspx,  truy cập ngày 26/03/2025.  

[23] Vũ Văn Phúc (2012), An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Cộng sản – Truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/15184/an-sinh-xa-hoi-o-nuoc-ta--mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien.aspx,  truy cập ngày 26/03/2025.

[24] Cũng cần phải khẳng định rằng, tại Trung Quốc không “phân định” riêng một văn bản quy phạm pháp luật về việc làm như Việt Nam, thay vào đó, lồng ghép vào Luật Lao động – và văn bản này được xem là “luật gốc” trong lĩnh vực lao động nói chung. Xem thêm luật này tại: https://www.gov.cn/banshi/2005-05/25/content_905.htm, truy cập ngày??? 

[25] Nguyễn Hữu Chí (2018), Một số yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động trong Bộ luật Lao động năm 2012, Tạp chí Toà án nhân dân (điện tử) – Truy cập tại: [https://tapchitoaan.vn/mot-so-yeu-to-anh-huong-den-phap-luat-dieu-chinh-quan-he-lao-dong-trong-bo-luat-lao-dong-nam-2012],  truy cập ngày 26/03/2025.

[26] Hoàng Văn Nghĩa và Phạm Vân Anh, “Pháp luật Việt Nam về việc làm của lao động nữ trước tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0”, Tạp chí Luật học, Số 05, 2023, tr. 73.