Pháp luật về các quyền dân sự, chính trị là lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật về quyền con người. Cùng với các quy định pháp luật thuộc các lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội, văn hóa, pháp luật về các quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam thời gian qua không ngừng được hoàn thiện. Mặc dù vậy, so với yêu cầu thực tiễn, yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về các quyền dân sự, chính trị nói riêng vẫn còn những hạn chế, bất cập. Bài viết này đánh giá thực trạng pháp luật về các quyền dân sự, chính trị, từ đó, đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam hiện nay.

Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN
Yêu cầu tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong Nhà nước pháp quyền là tất yếu trong xã hội dân chủ, hiện đại và văn minh. Với ý nghĩa là tập hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, ở mức độ khái quát, pháp luật về quyền con người có thể xác định gồm pháp luật về các quyền dân sự, chính trị; pháp luật về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Công ước ICCPR) là điều ước quốc tế đa phương quan trọng với 173 quốc gia tham gia. Việt Nam gia nhập Công ước này từ năm 1982. Từ đó đến nay, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp, nhiều đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác ghi nhận việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Trong hệ thống pháp luật, các quyền dân sự, chính trị thể hiện thông qua các quy định các quyền, nhóm quyền như1: quyền sống; quyền không bị tra tấn, nhục hình, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền của những người bị tước tự do được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm; quyền tự do đi lại và cư trú; quyền cư trú của người nước ngoài; quyền bình đẳng trước tòa án, cơ quan tài phán và được xét xử công bằng; quyền được công nhận là chủ thể trước pháp luật; quyền đối với bí mật đời tư; quyền kết hôn và lập gia đình; quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng, không phân biệt đối xử; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền tự do bày tỏ ý kiến, tự do ngôn luận; quyền tự do hội họp hòa bình; quyền tự do lập hội; quyền tham gia quản lý công việc nhà nước và xã hội. Các quyền dân sự, chính trị có thể được phân chia để xác định rõ đâu là quyền dân sự, đâu là quyền chính trị, song việc phân chia đó chỉ mang tính chất tương đối, một số quyền có thể xem là quyền dân sự, song cũng có thể xem là quyền chính trị2.
Các quyền dân sự, chính trị được khẳng định trong các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, các bộ luật, các luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác, đồng thời, cũng có thể được thể hiện trong các loại nguồn khác của pháp luật mà Nhà nước thừa nhận như tập quán pháp, án lệ, lẽ công bằng.
Để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về các quyền dân sự, chính trị, có thể dựa trên các yêu cầu được nêu trong Nghị quyết 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 27-NQ/TW) ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIII và Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 66-NQ/TW), đó là “xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội”3. Theo đó, hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị phải được đặt trong yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung. Cụ thể, hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị nghĩa là phải xây dựng được hệ thống pháp luật về các quyền dân sự, chính trị đáp ứng yêu cầu: (1) Đầy đủ; (2) Kịp thời, ổn định; (3) Thống nhất, không mâu thuẫn chồng chéo; (4) Dân chủ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận; (5) Công bằng, nhân đạo; (6), Khả thi, hiệu lực, hiệu quả.
2. Những thành tựu và một số bất cập, thách thức trong hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam hiện nay
a) Về thành tựu
Trước hết, cần khẳng định nhận thức của xã hội về quyền con người ở Việt Nam ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Trách nhiệm của Nhà nước trong mối quan hệ với quyền con người, quyền công dân được đề cao. Thể chế hóa quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền con người, quyền công dân ở Chương II, chỉ sau chương quy định về chế độ chính trị. Trong số 120 điều của Hiến pháp năm 2013 có tới 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Điều đó thể hiện nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc bảo đảm quyền con người. Hiến pháp cũng ghi nhận một nguyên tắc mang đậm tính pháp quyền và nhân văn, đó là quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế bằng luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Đó là sự đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền dân sự, chính trị. Đó cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội tự bảo vệ và thực hiện quyền con người, quyền công dân của mình. Những kết quả đạt được trong hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị đóng góp vào thành tựu chung về hoàn thiện thể chế, góp phần để Việt Nam được đánh giá tích cực trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu4.
Một là, về số lượng, các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngày càng đầy đủ. Kịp thời bổ sung, ban hành mới các quy định cần thiết để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới, sửa đổi các quy định không còn phù hợp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu từ xã hội. Chỉ trong 2 nhiệm kỳ gần đây, Quốc hội Khóa XIV đã ban hành được 73 luật5, Quốc hội Khóa XV tính từ đầu nhiệm kỳ đến tháng 6/2025 ban hành 65 luật6, đa số các luật này đều có các quy định liên quan đến quyền con người, trong đó, có các quyền dân sự, chính trị7. Các nghị định, thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện cũng được ban hành, góp phần đảm bảo tính đầy đủ, toàn diện của pháp luật về các quyền dân sự, chính trị. Theo Báo cáo số 459/BC-UBDNGS 15 ngày 09/5/2025 của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội về Tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật năm 2024 của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Trưởng ngành đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết đối với 212/360 điều khoản được giao; đồng thời, ban hành 261 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có nhiều quy định liên quan đến các quyền dân sự, chính trị của công dân.
Đồng thời, Việt Nam cũng chủ động gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người khi đáp ứng các điều kiện; kịp thời nội luật hóa, thực hiện nghiêm túc và có trách nhiệm các điều ước quốc tế đã tham gia.
Hai là, về chất lượng
Thứ nhất, do quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn được quan tâm đổi mới, ứng dụng công nghệ ngày càng hiệu quả, việc tăng cường công khai, minh bạch về thông tin, công tác truyền thông chính sách được chú trọng, nên pháp luật về các quyền dân sự, chính trị bảo đảm tốt yếu tố dân chủ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận. Trong hoạt động xây dựng pháp luật, việc lấy ý kiến nhân dân, các nhà khoa học, đối tượng chịu tác động… được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được công khai bằng nhiều hình thức như đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo, gửi lấy ý kiến góp ý, hội thảo, tọa đàm v.v.. Văn bản quy phạm pháp luật đều được công khai để người dân dễ dàng tiếp cận.
Thứ hai, pháp luật về các quyền dân sự, chính trị bảo đảm tính bao trùm, rộng mở và thể hiện rất đậm nét nguyên tắc tính công bằng, nhân đạo của Hiến pháp “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16 Hiến pháp năm 2013). Cụ thể hóa Hiến pháp, các luật bảo vệ quyền dân sự, chính trị, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của các cá nhân, các nhóm yếu thế cũng được kịp thời ban hành, bổ sung hoàn thiện. Các quyền dân sự, chính trị như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, danh dự, nhân phẩm được quan tâm khi xây dựng pháp luật8. Điển hình là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bỏ hình phạt tử hình ở 8 tội danh; đến Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tiếp tục tiếp tục bỏ hình phạt tử hình ở 8 tội danh; không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội; không thi hành án tử hình đối với người bị kết án đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên. Các quyền dân chủ như quyền bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Các luật tổ chức và hoạt động các cơ quan nhà nước cũng có nhiều quy định liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyên dân sự, chính trị9. Đối với các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như trẻ em, người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số10... pháp luật đều ghi nhận các chính sách ưu tiên.
Thứ ba, tính thống nhất của hệ thống pháp luật về các quyền dân sự, chính trị ngày càng được bảo đảm. Điều này thể hiện trước hết ở việc ngày càng ít hiện tượng các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp có nội dung trái với văn bản có giá trị pháp lý cao hơn và trái với Hiến pháp. Mặt khác, các chủ thể có thẩm quyền cũng chủ động kiểm tra, rà soát, phát hiện các quy định mâu thuẫn, chồng chéo và tích cực, kịp thời có biện pháp xử lý, khắc phục. Đơn cử, năm 2024, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội qua giám sát đã đề xuất, kiến nghị các giải pháp khắc phục hạn chế, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Trưởng ngành cũng có nhiều nỗ lực xây dựng pháp luật, nhất là các văn bản quy định chi tiết cho các Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội11.
Thứ tư, về cơ bản, các quy định pháp luật được ban hành kịp thời, có tính ổn định phù hợp và thể hiện được tính hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm tính khả thi. Khi có các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, chính trị mới xuất hiện hoặc có sự biến đổi cần có pháp luật điều chỉnh, nhìn chung, các văn bản luật liên quan được nhanh chóng ban hành hoặc bổ sung, hoàn thiện. Sự ra đời của các Luật Căn cước và Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, các luật mới ban hành gần đây sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phần nào thể hiện được tính kịp thời nêu trên. Hiện tượng nợ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cũng được nỗ lực khắc phục. Mặc dù các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, chính trị chịu tác động mạnh mẽ từ hội nhập quốc tế, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và trước những thay đổi nhanh chóng, khó dự báo của bối cảnh trong nước, quốc tế, song có nhiều văn bản luật về quyền dân sự, chính trị có độ ổn định cao như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
b) Một số bất cập, thách thức
Về số lượng
Vẫn còn một số văn bản luật cần thiết song chưa được ban hành kịp thời. Hiện tượng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện vẫn còn xảy ra. Theo Báo cáo số 459/BC-UBDNGS15 ngày 09/5/2025 của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội về Tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật năm 2024 của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, ở phương diện ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung, có 79 văn bản ban hành chậm hơn thời điểm có hiệu lực thi hành của luật, pháp lệnh, nghị quyết; trong đó, có các văn bản quy phạm pháp luật quy định về các quyền dân sự, chính trị12. Đánh giá về vấn đề này, Nghị quyết số 66-NQ/TW đã chỉ rõ: “Chậm nghiên cứu, ban hành chính sách, pháp luật điều chỉnh những vấn đề mới”.
Về chất lượng
Năm 2020, khi đánh giá về kết quả cải cách thể chế trong 10 năm (2011-2020), Chính phủ đã nhận định: Về thể chế, vẫn còn một số quy định chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi; chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thậm chí còn có nội dung chồng chéo, mâu thuẫn, còn văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái luật; còn nợ đọng văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh; chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật13. Tại Nghị quyết số 66-NQ/TW, Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ: “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật còn nhiều hạn chế, bất cập. Một số chủ trương, định hướng của Đảng chưa được thể chế hoá kịp thời, đầy đủ. Tư duy xây dựng pháp luật trong một số lĩnh vực còn thiên về quản lý. Chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Còn có những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng, cản trở việc thực thi”.
Đây là những hạn chế chung trong xây dựng pháp luật, cũng là hạn chế trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị, cụ thể:
Một là, trong xây dựng pháp luật về các quyền dân sự, chính trị, còn có cách hiểu khác nhau về nguyên tắc hạn chế quyền tại Điều 14 Hiến pháp. Hiến pháp khẳng định tại Khoản 2 nguyên tắc: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Để lý giải được trường hợp nào là cần thiết, lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng cụ thể là như thế nào là vấn đề không đơn giản. Trong một số trường hợp có thể có quan điểm khác nhau. Chẳng hạn như khi có sự xuất hiện của những hiện tượng hoặc những quan hệ xã hội làm cho công tác quản lý gặp phải những thách thức, có thể sẽ xuất hiện các quy phạm pháp luật cấm hoặc hạn chế quyền liên quan đến hiện tượng, quan hệ xã hội đó với lý do điều đó là cần thiết nhằm đảm bảo trật tự, an toàn xã hội v.v..
Hai là, vẫn còn hiện tượng chậm cụ thể hóa Hiến pháp, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành liên quan đến một số quyền dân sự, chính trị. Như tại Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chuyển đổi giới tính đã nêu “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật”, tuy nhiên hiện nay, Việt Nam chưa ban hành được đầy đủ văn bản luật về chuyển đổi giới tính cho công dân.
Ba là, một số quy định về các quyền dân sự, chính trị đã ban hành, đến nay, trước những đòi hỏi của thực tiễn và bối cảnh xã hội mới, cần được tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng như quy định tại Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.
Bốn là, có một số quyền dân sự, chính trị đã được quy định từ lâu, song trước những đổi mới từ xã hội, cần được rà soát, hoàn thiện pháp luật để bảo đảm thực hiện thuận lợi. Chẳng hạn quyền của cử tri trong việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân (được quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương)14. Trong thực tế, để cử tri thực hiện quyền này không phải là điều dễ dàng, do đó, trước những đổi mới trong tổ chức bộ máy Nhà nước hiện nay, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật để cử tri có đủ cơ sở pháp lý khi thực hiện quyền nêu trên.
Năm là, “kỷ nguyên số”15 với những đặc thù và sự tác động sâu rộng chưa từng có trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội... đòi hỏi pháp luật về các quyền dân sự, chính trị phải hiện đại và đầy đủ hơn nữa. Có những quyền dân sự, chính trị cần được tiếp tục nhận diện như quyền được quên lãng, quyền đối với thuật toán, quyền tiếp cận internet… Có nhiều quyền dân sự, chính trị cần được mở rộng về nội dung, cần có những biện pháp bảo đảm phù hợp như quyền riêng tư dữ liệu, quyền sở hữu dữ liệu cá nhân, quyền tác giả đối với sách điện tử v.v..
3. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về các quyền dân sự, chính trị
Phát huy thành tựu đạt được trong xây dựng pháp luật về các quyền dân sự, chính trị, thời gian tới, trên bình diện xây dựng, hoàn thiện pháp luật nói chung, cần thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp được Đảng, Nhà nước đề ra, trong đó, chú trọng đến các giải pháp nêu tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị như: Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, phát huy cao độ tính Đảng trong xây dựng và thi hành pháp luật; Đổi mới tư duy; Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật; Nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế, pháp luật quốc tế; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật; Tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Thực hiện cơ chế tài chính đặc biệt cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Trong đó, để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị, cần chú ý các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức về các quyền dân sự, chính trị, đổi mới tư duy pháp lý trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nâng cao nhận thức về các quyền dân sự, chính trị là cần thiết bởi lẽ, các quyền dân sự, chính trị đòi hỏi nghĩa vụ “thực hiện ngay”, đòi hỏi nhà nước giảm sự can thiệp vào sự hưởng thụ quyền, do vậy, cần nhận thức đúng, đầy đủ, toàn diện trong bối cảnh mới16. Đổi mới tư duy cần dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên nguyên tắc: “kiên định mục tiêu” (độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội), từ đó, đổi mới tư duy theo hướng “tư duy mở”, “tư duy kiến tạo”, “nắm vững giá trị phổ biến và tính đặc thù của quyền con người”. Xóa bỏ tư duy cũ, lạc hậu trong xây dựng pháp luật như “không quản được thì cấm”. Chuyển từ tư duy lấy chính quyền làm trung tâm sang lấy công dân làm trung tâm; từ tư duy “xin-cho” sang tư duy bình đẳng và công bằng trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân; từ tư duy “khép kín” sang tư duy công khai đối với thông tin quản trị; củng cố tư duy phân quyền, phân cấp, ủy quyền một cách khoa học, phù hợp, hiệu lực, hiệu quả.
Thứ hai, thực hiện nghiêm quan điểm bảo đảm tính Đảng trong xây dựng pháp luật, kịp thời thể chế hóa quan điểm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, tiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp, trong đó có các quy định về quyền sống và quyền sống trong môi trường trong lành; quyền xác định dân tộc; quyền chuyển đổi giới tính; quyền biểu tình... và ban hành các văn bản chi tiết thi hành các quyền dân sự, chính trị. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện các quyền con người trong các lĩnh vực có liên quan tới quốc phòng, an ninh; xây dựng mới các luật điều chỉnh lĩnh vực an ninh phi truyền thống.
Thứ ba, trong lĩnh vực tư pháp, tiếp tục nghiên cứu bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội danh trong Bộ luật Hình sự; thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tù; mở rộng việc áp dụng các hình phạt không phải tù giam và điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện. Làm rõ hơn nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Phát triển án lệ, củng cố và hướng dẫn việc áp dụng các loại nguồn bổ trợ của pháp luật như tập quán, lẽ công bằng trong trường hợp cần thiết khi giải quyết những vấn đề liên quan nhằm góp phần bảo đảm quyền dân sự, chính trị. Thúc đẩy bảo vệ quyền của trẻ em khỏi tất cả các hình thức bạo lực, đặc biệt là bảo vệ quyền trẻ em trên không gian mạng.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nhân lực xây dựng pháp luật và tiếp tục tăng cường đầu tư mang tính đột phá cho công tác xây dựng pháp luật. Chúng ta đều biết, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ dẫn, “cán bộ là gốc của công việc”, công tác xây dựng pháp luật có thực sự đảm bảo chất lượng hay không, yếu tố nhân lực xây dựng pháp luật mang ý nghĩa quyết định. Đồng thời, cần có những đầu tư mang tính đột phá, thỏa đáng cho công tác xây dựng pháp luật vốn đang được xác định ý nghĩa là công tác tháo gỡ điểm nghẽn của sự phát triển như Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đã xác định.
Thứ năm, chủ động, tích cực ứng dụng hiệu quả thành tựu của khoa học, công nghệ, tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào công tác xây dựng pháp luật. Cụ thể, cần tập trung vào các khâu của chu trình chính sách và vào tất cả các hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Gắn kết chặt chẽ việc hoạch định chính sách với hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Giải pháp này một mặt giúp đẩy nhanh tiến độ xây dựng pháp luật, mặt khác, bảo đảm chất lượng cho các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành.
Thứ sáu, tiếp tục chủ động, tích cực rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật về các quyền dân sự, chính trị đã nhận được khuyến nghị và Việt Nam đã chấp thuận khi Việt Nam thực hiện Báo cáo quốc gia theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (Universal Periodic Review) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (271 khuyến nghị được Việt Nam chấp thuận trong số 320 khuyến nghị Việt Nam nhận được). Kinh nghiệm thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III cho thấy, việc chủ động, tích cực của Việt Nam đã đem lại kết quả tốt đẹp, ấn tượng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao17. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1172/QĐ-TTg ngày 17/6/2025 phê duyệt Kế hoạch tổng thể triển khai thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (Kế hoạch). Thời gian tới, các cơ quan, đơn vị liên quan cần chủ động, tích cực thực hiện Kế hoạch như là một trong những giải pháp quan trọng để hoàn thiện pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị nói riêng./.
PGS. TS Nguyễn Thị Tuyết Mai
Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 49 (10/2025)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Lý luận chính trị, H.2021, tr.75-87.
(2) Vũ Công Giao. Hỏi - Đáp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân (tái bản có sửa chữa, bổ sung). H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2016, tr. 49, 61.
(3) Nghị quyết 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIII.
(4) Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) 2024 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố, chỉ số về thể chế trong nhóm chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục được cải thiện, năm 2021 xếp hạng 83/132 quốc gia; năm 2024 xếp hạng 58/133 quốc gia.
(5) Tham khảo: https://vanban.chinhphu.vn/he-thong-van-ban.
(6) Tham khảo: https://vanban.chinhphu.vn/he-thong-van-ban.
(7) Luật Cư trú năm 2020, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Căn cước năm 2023, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2025, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, v.v..
(8) Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, các luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2025.
(9) Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 (sửa đổi, bổ sung 2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
(10) Trong số hơn 200 luật, pháp lệnh (tinh đến 2018), có trên dưới 70 văn bản quy định liên quan đến chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số; trên 250 văn bản Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ có trọng điểm là các chính sách ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi”, Uỷ ban Dân tộc, Hà Nội 2019, tr.46
(11) Xem thêm: Kết luận của Uỷ ban thường vu Quốc hội về kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội năm 2024, Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-giam-sat.aspx?ItemID=93748, ngày 26/4/2025.
(12) Ví dụ như: 1, Luật Người khuyết tật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, đến nay vẫn còn 01 nội dung (khoản 7 Điều 50) thuộc trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) chưa được quy định chi tiết, đầy đủ. Mặc dù Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư 26/2020/TT-BTTT quy định về tiêu chuẩn hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông nhưng về hình thức văn bản là chưa phù hợp với Luật Người khuyết tật yêu cầu phải ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; 2, Chậm ban hành Nghị định quy định chi tiết khoản 3 Điều 43 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình…
(13) Báo cáo số 128/BC-CP ngày 19 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 (Phần thứ nhất, nội dung C, mục II).
(14) Khoản 5 Điều 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025: “Đại biểu Hội đồng nhân dân không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân và không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân thì bị Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm.”
(15) Thuật ngữ được sử dụng ngày càng phổ biến bởi nhiều tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, Liên hợp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)… và tại các quốc gia.
(16) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb LLCT, H.2021, tr.25.
(17) Tham khảo: https://tuoitre.vn/viet-nam-chap-thuan-271-khuyen-nghi-cua-133-nuoc-tai-doi-thoai-ve-quyen-con-nguoi-20241001235955638.htm.