Xây dựng chỉ số về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam có vai trò quan trọng nhằm cụ thể hóa các cam kết quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD), tăng cường giám sát khách quan mức độ thực thi quyền, nhận diện rào cản, bất bình đẳng, thúc đẩy sự tham gia thực chất của người khuyết tật và chuyển đổi nhận thức xã hội từ tiếp cận từ thiện sang quyền con người. Song ở Việt Nam vẫn thiếu một công cụ đo lường mang tính hệ thống, nhất quán và phù hợp với bối cảnh địa phương. Trong bài viết, tác giả bàn về sự cần thiết của việc xây dựng chỉ số về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam và đề xuất khung chỉ số, kiến nghị về hoàn thiện pháp lý, dữ liệu và cơ chế tham gia.

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận
trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật. Nguồn: vovworld.vn.
Năm 2008, Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD), có hiệu lực, đánh dấu sự chuyển đổi cách tiếp cận về khuyết tật từ y học và từ thiện sang dựa trên quyền1. Đồng thời, đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên bao gồm Việt Nam bảo vệ và thực thi các quyền của người khuyết tật. Ngay sau đó, Việt Nam đã thực hiện cam kết này thông qua hoàn thiện các văn bản pháp luật như Hiến pháp năm 2013 và Luật Người khuyết tật năm 2010, nhằm đảm bảo quyền về giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe và các quyền cơ bản khác của người khuyết tật, đồng thời triển khai các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia để thúc đẩy sự hòa nhập và trao quyền cho họ. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng song Việt Nam vẫn chưa xây dựng được bộ chỉ số với tư cách là công cụ đo lường mang tính hệ thống, nhất quán.
1. Sự cần thiết phải xây dựng chỉ số quyền của người khuyết tật ở Việt Nam
Thứ nhất, giúp đánh giá thực chất việc thực thi quyền của người khuyết tật từ trung ương đến địa phương
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật, chính sách liên quan đến người khuyết tật, đặc biệt sau khi Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) được Việt Nam phê chuẩn năm 2014 tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XIII. Tuy nhiên, việc theo dõi, đánh giá mức độ thực thi các quy định này còn thiếu hệ thống, chủ yếu dựa trên các báo cáo định tính và chưa phản ánh đầy đủ tác động thực tế đến cuộc sống của người khuyết tật. Do đó, việc xây dựng chỉ số này góp phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin khách quan, giúp các cơ quan chức năng ở các cấp có thể rà soát các chính sách và biện pháp đã thực thi, đồng thời chỉ ra những thiếu sót trong việc bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật. Từ đó, chỉ số trở thành một công cụ hữu ích trong việc đo lường hiệu quả các chương trình và chính sách liên quan đến quyền của NKT.
Thứ hai, là cơ sở để nhận diện các vấn đề bất bình đẳng và rào cản cụ thể theo nhóm đối tượng và vùng miền
Việt Nam là một quốc gia có sự chênh lệch đáng kể về điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ phát triển và hệ thống dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật giữa các địa phương2. Bên cạnh đó, người khuyết tật cũng không phải là một nhóm thuần nhất mà có sự đa dạng về dạng khuyết tật, độ tuổi, giới tính, dân tộc, mức độ phụ thuộc, v.v. Chỉ số quyền nếu được xây dựng đảm bảo các tiêu chí phản ánh sự khác biệt này sẽ cho phép nhận diện chính xác các dạng bất bình đẳng và rào cản cụ thể mà người khuyết tật phải đối mặt ở từng khu vực, từng nhóm xã hội. Từ đó, các giải pháp can thiệp có thể được xây dựng một cách có trọng tâm, dựa trên bằng chứng thực tiễn, thay vì các tiếp cận mang tính dàn trải và thiếu đồng bộ như hiện nay.
Thứ ba, thúc đẩy thực chất sự tham gia của người khuyết tật vào tiến trình xây dựng và giám sát chính sách
Trên thực tế, người khuyết tật vẫn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận thông tin, trình bày quan điểm, cũng như giám sát việc thực thi các quyền của mình3. Do đó, một trong những nguyên tắc cốt lõi của tiếp cận quyền con người đối với người khuyết tật là đảm bảo sự tham gia có ý nghĩa của chính họ trong quá trình hoạch định, thực hiện và giám sát các chính sách có liên quan. Việc xây dựng chỉ số quyền, đặc biệt nếu được thiết kế theo hướng bao trùm, có sự đồng kiến tạo từ cộng đồng người khuyết tật sẽ góp phần cung cấp công cụ phản ánh tiếng nói và nguyện vọng của họ, đồng thời giúp nâng cao năng lực tự đại diện và góp phần chuyển hóa vai trò của người khuyết tật từ đối tượng thụ hưởng sang chủ thể quyền đích thực trong đời sống xã hội.
Thứ tư, góp phần định hình lại nhận thức xã hội và chuyển hóa tiếp cận từ từ thiện sang quyền con người
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nâng cao nhận thức xã hội, nhưng tại Việt Nam, người khuyết tật vẫn thường được nhìn nhận như những đối tượng yếu thế cần sự trợ giúp nhân đạo hơn là những chủ thể có quyền bình đẳng4. Việc xây dựng và phổ biến chỉ số quyền sẽ tạo ra một khung tham chiếu để nhìn nhận lại mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và người khuyết tật trên nền tảng quyền con người. Qua đó, chỉ số không chỉ là công cụ đo lường mà còn là phương tiện truyền thông có tính giáo dục xã hội, góp phần thay đổi tư duy tiếp cận, công nhận giá trị của người khuyết tật như những công dân bình đẳng trong cộng đồng.
2. Cơ sở xây dựng chỉ số quyền của người khuyết tật ở Việt Nam
Khoản 1, Điều 31 Công ước về quyền của người khuyết tật quy định: “Quốc gia thành viên cam kết thu thập các thông tin cần thiết, trong đó có dữ liệu thống kê và nghiên cứu, để thuận lợi trong việc xây dựng và thi hành các chính sách nhằm thực hiện Công ước này”5... Xây dựng chỉ số quyền con người nhằm đánh giá việc bảo đảm thực hiện quyền con người của các quốc gia. Vì vậy, việc sử dụng các chỉ số phù hợp là một cách giúp các quốc gia đánh giá tiến độ của chính mình trong việc đảm bảo người dân được hưởng các quyền con người6. Hơn nữa, đây cũng là phương tiện cụ thể giúp các quốc gia cung cấp thông tin chính xác và có liên quan cho các cơ chế nhân quyền quốc tế.
Trên thế giới hiện nay, phương pháp luận của OHCHR về các chỉ số quyền con người dựa trên các tiêu chuẩn quyền con người quốc tế đã được ghi nhận trong các công ước quốc tế cơ bản cũng như được phát triển thông qua các bình luận chung của các Uỷ ban công ước. Phương pháp luận thừa nhận sự phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời của các quyền dân sự, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội và phản ánh các chuẩn mực quyền con người xuyên suốt, chẳng hạn như không phân biệt đối xử và bình đẳng, tham gia và trách nhiệm giải trình.
Khi xây dựng chỉ số quyền con người nói chung và chỉ số quyền của người khuyết tật nói riêng, OHCHR tiếp cận theo hai bước:
Bước thứ nhất, xác định các thuộc tính của quyền con người
Các thuộc tính là yếu tố cốt lõi của một quyền. Quyền con người có đặc trưng liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Trong khi đó, xây dựng chỉ số là nhằm hướng tới phân tách các đặc trưng của từng quyền cụ thể, nhằm phân biệt quyền này với các quyền khác. Việc xác định các thuộc tính đòi hỏi phải cung cấp sự phân loại rõ ràng và “hữu hình” hơn về quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các chỉ số tương ứng với các khía cạnh khác nhau của quyền. Bằng cách này, mối liên kết được thực hiện giữa khung quy chuẩn và các chỉ số cụ thể của từng quyền. Chẳng hạn, các thuộc tính được xác định cho Điều 24 của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật về giáo dục hòa nhập bao gồm tất cả các khía cạnh của quyền và phục vụ cho việc phân loại, phát triển các chỉ số tốt hơn, bao gồm: Hệ thống giáo dục hòa nhập; Chất lượng và miễn phí tiểu học và trung học; Tiếp cận với chương trình đại học, đào tạo nghề và học tập suốt đời; Giảng dạy hòa nhập.
Bước thứ hai, xây dựng các chỉ số cấu trúc, quá trình và kết quả
Các chỉ số cấu trúc đo lường sự chấp nhận, ý định và cam kết đối với quyền con người. Chúng phản ánh việc ban hành các công cụ pháp lý và việc thông qua các chính sách để thực hiện các quyền con người7 như Luật được ban hành nhằm đảm bảo giáo dục hòa nhập cho tất cả học sinh, bao gồm cả học sinh khuyết tật trong môi trường công lập và tư thục ở tất cả các cấp học.
Các chỉ số quá trình đo lường những nỗ lực để chuyển đổi các cam kết thành kết quả mong muốn. Các chỉ số này đánh giá các chính sách và biện pháp được thực hiện để thực hiện các cam kết trên thực tế8. Ví dụ, tỷ lệ trường học được tiếp cận với... (d) cơ sở hạ tầng và tài liệu phù hợp cho học sinh khuyết tật; hoặc chỉ số: ngân sách được phân bổ để đảm bảo quyền của người khuyết tật được giáo dục hòa nhập ở các môi trường chính khóa, so với ngân sách được phân bổ cho các cơ sở giáo dục chuyên biệt/tách biệt, dù là trường phổ thông hay trường đặc biệt.
Các chỉ số kết quả đo lường kết quả của những nỗ lực nhằm nâng cao quyền con người. Các chỉ số này thu thập các kết quả phản ánh mức độ thụ hưởng các quyền con người trong một bối cảnh nhất định9. Theo thời gian, một chỉ số kết quả tổng hợp tác động của các nỗ lực và biện pháp được thực hiện để thực hiện các cam kết. Ví dụ, tỷ lệ người khuyết tật liên quan đến trẻ em khuyết tật không được đến trường, tỷ lệ nhập học, đi học, lên lớp, hoàn thành và bỏ học trong các cơ sở giáo dục chính khóa tiểu học, trung học, đại học, dạy nghề, các khóa học suốt đời, so với các cơ sở giáo dục khác, được phân tách theo giới tính, độ tuổi, khuyết tật, nền tảng dân tộc thiểu số hoặc bản địa, cấp lớp và trình độ học vấn10.
3. Đề xuất khung chỉ số quyền của người khuyết tật tại Việt Nam
Để bảo đảm tính toàn diện và phản ánh chính xác thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật, việc xây dựng hệ thống chỉ số cần được triển khai dựa trên ba chỉ số sau:
(1) Chỉ số cấu trúc
|
Yếu tố đánh giá |
Chỉ số đánh giá |
|
Pháp lý và chính sách bảo vệ quyền của người khuyết tật |
- Ngày hiệu lực và phạm vi của các điều khoản trong Hiến pháp hoặc pháp luật quốc gia bảo vệ quyền của người khuyết tật, bao gồm quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử. - Sự phê chuẩn và áp dụng các Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD), bao gồm các cam kết bảo vệ quyền lợi người khuyết tật. - Các quy định về giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật, bao gồm các tiêu chuẩn cơ sở vật chất và chương trình giảng dạy phù hợp. - Các chính sách về tiếp cận dịch vụ y tế cho người khuyết tật, bao gồm bảo hiểm y tế và dịch vụ y tế đặc biệt. - Các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người khuyết tật và cơ hội việc làm. |
|
Hệ thống hỗ trợ người khuyết tật trong các lĩnh vực công cộng và an sinh xã hội |
- Ngày hiệu lực và phạm vi của các quy định về sự tiếp cận của người khuyết tật đối với giáo dục, y tế, việc làm và cơ sở hạ tầng công cộng. - Các tổ chức hỗ trợ người khuyết tật trong việc thực hiện các quyền cơ bản. - Quy định và thực thi chính sách giáo dục hòa nhập và đào tạo nghề cho người khuyết tật. - Quy định về tiếp cận giao thông cộng cộng, các công trình công cộng và không gian công cộng cho người khuyết tật - Ngày hiệu lực và phạm vi của chính sách chăm sóc y tế đặc biệt cho người khuyết tật, bao gồm hỗ trợ về phục hồi chức năng và điều trị bệnh tật. - Cơ sở dữ liệu về các trung tâm chăm sóc người khuyết tật, bao gồm số lượng và phân bố theo khu vực. |
|
Chính sách chống kỳ thị và phân biệt đối xử |
Sự tồn tại và hiệu lực của các chính sách và chương trình chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật |
|
Công nghệ số hỗ trợ người khuyết tật |
Sự phát triển của các công nghệ hỗ trợ như pahanf mềm đọc màn hình, dịch vụ trực tuyến cho người khuyết tật |
(2) Chỉ số quá trình
|
Yếu tố đánh giá |
Chỉ số đánh giá |
|
Mức độ thực thi và bảo vệ quyền của người khuyết tật |
-Tỉ lệ các vụ vi phạm quyền của người khuyết tật được điều tra và giải quyết bởi các cơ quan chức năng. - Tỉ lệ các chính sách, chương trình và biện pháp bảo vệ quyền của người khuyết tật được thực hiện hiệu quả. - Tỉ lệ người khuyết tật tham gia vào các hoạt động cộng đồng và chính trị - Tỉ lệ người khuyết tật tham gia vào các cuộc bầu cử và có đại diện trong các tổ chức chính trị - xã hội |
|
Giáo dục và cơ hội việc làm cho người khuyết tật |
-Tỉ lệ học sinh khuyết tật được tiếp cận giáo dục chính thức và không chính thức. - Tỉ lệ người khuyết tật tham gia vào thị trường lao động chính thức, bao gồm cả tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ tham gia trong các ngành nghề phù hợp với khả năng. |
|
Tiếp cận cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng |
- Tỉ lệ công trình công cộng và giao thông đáp ứng các tiêu chuẩn tiếp cận cho người khuyết tật. - Tỉ lệ cơ sở y tế, dịch vụ công và cơ sở xã hội có trang thiết bị hỗ trợ cho người khuyết tật. - Tỉ lệ người khuyết tật có thể tiếp cận dịch vụ giáo dục hòa nhập và đào tạo nghề. - Tỉ lệ người khuyết tật sử dụng các dịch vụ y tế và xã hội có sẵn, bao gồm cả dịch vụ chăm sóc đặc biệt và phục hồi chức năng. |
|
Chương trình hỗ trợ và phục hồi chức năng |
- Tỉ lệ người khuyết tật tham gia vào các chương trình phục hồi chức năng và hỗ trợ đời sống. - Số lượng và chất lượng các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tâm lý và trợ giúp cho người khuyết tật trong cộng đồng. - Tỉ lệ người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ y tế và chăm sóc đặc biệt. - Mức độ tham gia của người khuyết tật trong các hoạt động xã hội, công việc và đào tạo nghề. |
|
Mức độ thực hiện các chính sách an sinh |
Tỉ lệ người khuyết tật tiếp cận các chương trình hỗ trợ an sinh xã hội như bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội |
|
Thực hiện chống kỳ thị và phân biệt đối xử |
Tỷ lệ các vụ phân biệt đối xử và kỳ thị đối với người khuyết tật được giải quyết và xử lý |
(3) Chỉ số kết quả
|
Yếu tố đánh giá |
Chỉ số đánh giá |
|
Chất lượng cuộc sống của người khuyết tật |
• Tỉ lệ người khuyết tật có mức sống vượt qua ngưỡng nghèo đói so với tổng dân số. • Tỉ lệ người khuyết tật có khả năng tự chăm sóc và tham gia vào các hoạt động xã hội. |
|
Sự hòa nhập và tham gia của người khuyết tật vào xã hội |
• Tỉ lệ người khuyết tật tham gia vào các hoạt động cộng đồng, văn hóa, thể thao và giải trí. • Tỉ lệ người khuyết tật tham gia vào các tổ chức xã hội và chính trị. |
|
Bảo vệ sức khỏe cho người khuyết tật |
• Tỉ lệ người khuyết tật mắc bệnh tật, tổn thương thể chất và tinh thần không được điều trị đúng mức. • Tỉ lệ người khuyết tật có thể tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, phục hồi chức năng và chăm sóc đặc biệt. |
|
Phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng |
• Tỉ lệ người khuyết tật được tái hòa nhập cộng đồng sau khi trải qua chương trình phục hồi chức năng hoặc hỗ trợ xã hội. • Tỉ lệ người khuyết tật nhận được bồi thường hoặc trợ cấp từ các chương trình trợ giúp xã hội do chính phủ hoặc tổ chức quốc tế cung cấp. |
|
Mức độ thay đổi thái độ xã hội đối với người khuyết tật |
Mức độ chấp nhận và hòa nhập của cộng đồng đối với người khuyết tật trong các hoạt động xã hội và kinh tế |
Việc xây dựng các yếu tố đánh giá chỉ số quyền của người khuyết tật phải bao gồm 03 nhóm chỉ số cấu trúc - quá trình - kết quả bởi những lý do sau:
Một là, việc đưa nhóm chỉ số cấu trúc vào hệ thống đánh giá là một yêu cầu mang tính nền tảng để phản ánh mức độ cam kết pháp lý và chính sách của Việt Nam đối với quyền của người khuyết tật. Chỉ số cấu trúc cho phép đo lường sự tồn tại và hiệu lực của khung pháp lý – từ Hiến pháp, các văn bản pháp luật quốc gia cho đến các điều ước quốc tế như Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD), mà Việt Nam đã phê chuẩn từ năm 2014. Bên cạnh đó, các yếu tố như giáo dục hòa nhập, chính sách y tế và đào tạo nghề thể hiện mức độ cụ thể hóa các cam kết này thành hành động lập pháp và quản trị quốc gia. Phân tích chỉ số cấu trúc cho phép đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế, đồng thời là cơ sở xác định trách nhiệm giải trình của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật.
Hai là, nhóm chỉ số quá trình có ý nghĩa quyết định trong việc phản ánh khoảng cách giữa cam kết chính sách và thực tiễn thực thi quyền của người khuyết tật. Việc theo dõi tỷ lệ các vụ vi phạm quyền được điều tra và xử lý, mức độ tham gia của người khuyết tật vào đời sống chính trị - xã hội, hay khả năng tiếp cận giáo dục, việc làm, cơ sở hạ tầng, đều cung cấp minh chứng cho tính hiệu quả của hệ thống thực thi. Theo Ủy ban về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên cần phát triển cơ chế giám sát độc lập nhằm bảo đảm rằng quyền của người khuyết tật nói chung cũng như người khuyết tật và trẻ em gái khuyết tật nói riêng không chỉ tồn tại trên giấy tờ mà được thực thi trong đời sống thực tế11. Ở Việt Nam, báo cáo của UNDP cho thấy người khuyết tật vẫn gặp rào cản lớn trong việc tham gia thị trường lao động và tiếp cận các dịch vụ công12. Do đó, chỉ số quá trình sẽ là thước đo quan trọng để đánh giá khoảng cách giữa “luật định” và “thực tiễn,” qua đó thúc đẩy cải thiện hiệu quả quản trị.
Ba là, nhóm chỉ số kết quả phản ánh trực tiếp chất lượng cuộc sống và mức độ hòa nhập xã hội của người khuyết tật – yếu tố cuối cùng để đánh giá tác động thực sự của các chính sách. Các tiêu chí như tỷ lệ người khuyết tật vượt ngưỡng nghèo đói, khả năng tham gia hoạt động cộng đồng, hay mức độ chấp nhận xã hội là minh chứng rõ ràng nhất cho sự thành công (hoặc thất bại) trong việc bảo đảm quyền của họ. Như vậy, ba nhóm chỉ số cấu trúc – quá trình - kết quả vừa mang tính bổ trợ vừa mang tính logic, bảo đảm cho một công cụ đánh giá toàn diện, khách quan và có giá trị tham chiếu quốc tế.
4. Một số kiến nghị trong quá trình xây dựng và thực hiện chỉ số quyền của người khuyết tật ở Việt Nam
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý làm nền tảng cho việc xây dựng chỉ số quyền của người khuyết tật
Việc xây dựng chỉ số quyền của người khuyết tật cần được đặt trên nền tảng pháp lý vững chắc, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD). Luật Người khuyết tật năm 2010 cần được sửa đổi theo hướng tiếp cận quyền con người, thay vì tiếp cận từ góc độ y tế - từ thiện như trước. Nhiều khái niệm quan trọng trong CRPD như "hỗ trợ hợp lý" (reasonable accommodation), "sống độc lập và hòa nhập cộng đồng", hay "năng lực pháp lý ngang nhau" vẫn chưa được luật hóa đầy đủ.
Bổ sung các quy định về thu thập và sử dụng dữ liệu có phân tách về người khuyết tật trong Luật Thống kê và các luật chuyên ngành. Điều 31 CRPD yêu cầu các quốc gia xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê đáng tin cậy, phân tách theo loại khuyết tật, giới tính, tuổi tác... để phục vụ cho việc hoạch định và đánh giá chính sách. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định rõ trách nhiệm, hình thức và phương pháp thu thập dữ liệu này, dẫn đến tình trạng thiếu dữ liệu để xây dựng chỉ số.
Thứ hai, tham vấn các cơ quan xây dựng bộ chỉ số dựa trên cách tiếp cận quyền con người
Hiện nay, Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong quản lý nhà nước về lĩnh vực người khuyết tật, đồng thời là đầu mối quốc gia trong việc thực hiện Công ước CRPD. Do đó, cơ quan này cần giữ vai trò chủ trì trong việc xây dựng khung chỉ số, phối hợp với Bộ Tài chính để bảo đảm tính khoa học, chính xác và khả thi trong việc thu thập dữ liệu liên quan đến quyền của người khuyết tật.
Việc thiết kế chỉ số quyền của người khuyết tật không nên chỉ dừng lại ở việc phản ánh điều kiện sống hay mức độ hòa nhập xã hội mà cần dựa trên tiếp cận quyền con người - trong đó người khuyết tật không phải là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể quyền, có năng lực pháp lý và năng lực hành vi đầy đủ. Bộ chỉ số cần phản ánh đầy đủ các nguyên tắc nền tảng của tiếp cận quyền như: không phân biệt đối xử, bình đẳng về cơ hội, hòa nhập xã hội và trao quyền. Bên cạnh các chỉ số đầu ra (outcome indicators) cần phát triển thêm các chỉ số cấu trúc (structural indicators) và chỉ số quá trình (process indicators) nhằm đánh giá toàn diện mức độ cam kết và năng lực thực hiện của Nhà nước trong việc bảo vệ, bảo đảm các quyền của người khuyết tật.
Thứ ba, đảm bảo sự tham gia thực chất của người khuyết tật và các tổ chức đại diện
Nguyên tắc "không có gì về chúng tôi mà không có chúng tôi" (Nothing about us without us)13 cần được đặt làm trọng tâm trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện chỉ số quyền của người khuyết tật. Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền cần thiết lập cơ chế tham vấn định kỳ, đa chiều với sự tham gia của người khuyết tật và các tổ chức đại diện cho họ. Việc này không chỉ góp phần tăng tính hợp pháp, hợp hiến của bộ chỉ số mà còn phản ánh đúng nhu cầu, mối quan tâm và mức độ kỳ vọng của cộng đồng người khuyết tật trong thực tiễn. Sự tham gia này cần được thể chế hóa bằng các quy định cụ thể, đi kèm với các nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật và tài chính phù hợp.
Thứ tư, tăng cường năng lực thu thập và xử lý dữ liệu có phân tách
Một thách thức lớn trong việc xây dựng chỉ số quyền của người khuyết tật ở Việt Nam là sự thiếu hụt dữ liệu có độ tin cậy, đầy đủ và mang tính phân tách theo loại hình khuyết tật, giới tính, độ tuổi, vùng miền và nhóm dân tộc. Do đó, cần tăng cường năng lực của hệ thống thống kê quốc gia, bao gồm cả việc đào tạo đội ngũ chuyên môn, ứng dụng công nghệ thông tin và thiết kế công cụ thu thập dữ liệu phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
Xây dựng chỉ số quyền của người khuyết tật tại Việt Nam là đòi hỏi quan trọng xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trong việc cụ thể hóa các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết thực hiện. Đồng thời, các chỉ số đó còn đóng vai trò như một công cụ đo lường và giám sát quan trọng, góp phần đảm bảo tính hiện thực và khả năng thực thi của các quyền của người khuyết tật trên thực tế. Vì vậy, cần thiết lập một hệ thống chỉ số có cơ sở khoa học, phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quyền của người khuyết tật, tạo tiền đề cho việc hoạch định và điều chỉnh chính sách toàn diện, hiệu quả và dựa trên bằng chứng.
TS. Chu Thị Thúy Hằng
Viện Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 49 (10/2025)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) WHO, World report on disability, 2011, file:///C:/Users/admin/Downloads/9789240685215_eng%20(1).pdf
(2) UNDP, "Báo cáo đánh giá Luật Người khuyết tật so sánh với Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật", có đề cập rằng 75% người khuyết tật ở Việt Nam sinh sống ở khu vực nông thôn. Tài liệu có tại: https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/2022-07/Report%20on%20aligning%20Viet%20Nam%27s%20Law%20on%20PWDs%20and%20CRPD%20-%20VN.pdf, truy cập ngày 28/7/2025.
(3) Báo cáo "Đánh giá hòa nhập khuyết tật trong quản trị địa phương năm 2023" do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong (MDRI) thực hiện. Báo cáo này chỉ ra rằng người khuyết tật có mức độ tham gia thấp trong các tổ chức xã hội và bầu cử ở cấp cơ sở, với sự chênh lệch giữa các giới và các dạng khuyết tật. Báo cáo này có thể được truy cập tại: https://papi.org.vn/wp-content/uploads/2023/04/Assessing-disability-inclusion-in-local-governance-_ENG_Final.pdf, truy cập ngày 28/7/2025.
(4) Báo cáo "Vietnam End of Project Phase I" của Chương trình Đối tác Liên Hợp Quốc về Quyền của Người khuyết tật (UNPRPD). Cụ thể, báo cáo nêu rõ:"A widespread misperception around disability with a tendency to regard people with disabilities as objects of charity rather than as bearers of equal rights." Tài liệu được truy cập tại: https://unprpd.org/new/wp-content/uploads/2023/12/Vietnam_End-of-Project-Report_Phase-I_Accessible-version-607.pdf, truy cập ngày 28/7/2025.
(5) Điều 31 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật quy định:
“1. Quốc gia thành viên cam kết thu thập các thông tin cần thiết, trong đó có dữ liệu thống kê và nghiên cứu, để thuận lợi trong việc xây dựng và thi hành các chính sách nhằm thực hiện Công ước này.
...
2. Thông tin thu được theo điều này phải được tách lọc nếu cần và dùng để phục vụ đánh giá thi hành nghĩa vụ của quốc gia thành viên theo Công ước này, cũng như để phát hiện và giải quyết những trở ngại mà người khuyết tật phải đối mặt khi thực hiện các quyền của người khuyết tật””.
(6) Cao uỷ Quyền con người của Liên hợp quốc, Human Rights Indicators - Guide to measurement and Implementation (Chỉ số quyền con người - Hướng dẫn đo lường và thực hiện), trang 1.
(7) Cao uỷ Quyền con người của Liên hợp quốc, Human Rights Indicators - Guide to measurement and Implementation (Chỉ số quyền con người - Hướng dẫn đo lường và thực hiện), tr. 6.
(8) Cao uỷ Quyền con người của Liên hợp quốc, Human Rights Indicators - Guide to measurement and Implementation (Chỉ số quyền con người - Hướng dẫn đo lường và thực hiện), tr. 6.
(9) Cao uỷ Quyền con người của Liên hợp quốc, Human Rights Indicators - Guide to measurement and Implementation (Chỉ số quyền con người - Hướng dẫn đo lường và thực hiện), tr. 6.
(10) Chu Thị Thúy Hằng (2022), “Chỉ số quyền con người: Lý luận và thực tiễn”, Kỷ yếu Đề tài cơ sở, trang 14.
(11) Committee on the Rights of Persons with Disabilities (CRPD Committee). (2016). General comment No. 3 (2016) on women and girls with disabilities. United Nations, CRPD/C/GC/3. https://www.ohchr.org/en/documents/general-comments-and-recommendations/general-comment-no3-article-6-women-and-girls. Theo đó, các quốc gia thành viên phải thực hiện “mọi biện pháp thích hợp” để bảo đảm và thúc đẩy việc thụ hưởng đầy đủ tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của mọi người khuyết tật. Các biện pháp này có thể mang tính lập pháp, giáo dục, hành chính, văn hóa, chính trị, ngôn ngữ hoặc thuộc các lĩnh vực khác.
(12) UNDP, (2018). Improving Employment Policies towards People with Disabilities in Viet Nam. Hanoi: United Nations Development Programme, tr. 12-14.
(13) Nguyên tắc "Nothing about us without us" (không có gì về chúng tôi mà không có chúng tôi) đã được phổ biến rộng rãi trong phong trào của những người khuyết tật, đặc biệt là trong những năm cuối thế kỷ 20. Được cho là xuất phát từ các nhóm người khuyết tật ở Nam Phi vào những năm 1990, nguyên tắc này trở thành một khẩu hiệu mạnh mẽ trong các chiến dịch đấu tranh cho quyền của người khuyết tật.