Quyền kết hôn là quyền cơ bản và chính đáng của mỗi người. Năm 2001, Hà Lan là quốc gia đầu tiên trên thế giới và năm 2024, Thái Lan là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên công nhận hôn nhân đồng giới. Hiện nay, pháp luật Việt Nam không thừa nhận hôn nhân giữa những người có cùng giới tính. Bài viết phân tích các quy định về quyền kết hôn của người đồng tính trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật của một số quốc gia, từ đó kiến nghị hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này trong bối cảnh phát triển và hội nhập.

Ảnh minh họa. Nguồn: quanlynhanuoc.vn

Đặt vấn đề

Hôn nhân giữa những người có cùng giới tính là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm và tranh luận từ xã hội. Thực tiễn cho thấy nhu cầu được công nhận quyền kết hôn của người đồng tính là nhu cầu thực tế và cấp thiết. Quyền kết hôn của người đồng tính là một trong những quyền chính đáng và có ý nghĩa quan trọng với đời sống tinh thần của người đồng tính. Khi quyền kết hôn của họ không được pháp luật thừa nhận, người đồng tính sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người của họ. Quyền kết hôn của người đồng tính tại Việt Nam là vấn đề dường như đang bị pháp luật né tránh trong khi đây vốn là vấn đề pháp lý xuất phát từ quyền con người. Việc nghiên cứu quyền kết hôn của người đồng tính dưới lăng kính quyền con người kết hợp tham khảo pháp luật của các quốc gia trên thế giới sẽ là gợi ý hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam.

1. Lý thuyết và pháp luật quốc tế về quyền kết hôn của người đồng tính

a) Lý thuyết về quyền kết hôn của người đồng tính

Thứ nhất, định nghĩa về người đồng tính

Từ trước đến nay, nhiều người nghĩ rằng đồng tính, song tính thuộc giới tính thứ ba bên cạnh giới tính nam và giới tính nữ. Tuy nhiên, quan niệm này là hoàn toàn sai lầm. Thực chất trong xã hội chỉ có hai giới tính là nam và nữ. Vấn đề đồng tính hay song tính liên quan đến một khái niệm còn khá mới mẻ, chưa được hiểu biết rộng rãi, đó là xu hướng tính dục1. Xu hướng tính dục chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về mặt tình dục giữa những người cùng giới tính (xu hướng tính dục cùng giới) hoặc khác giới tính (xu hướng tính dục khác giới) hoặc đối với cả hai giới tính (xu hướng tính dục song tính)2. Những người có xu hướng tính dục cùng giới được gọi là người đồng tính luyến ái (bao gồm: đồng tính luyến ái nữ - Lesbian và đồng tính luyến ái nam - Gay). Năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ đã chính thức đưa đồng tính luyến ái (sau đây gọi tắt là đồng tính) ra khỏi danh sách các bệnh rối loạn tâm thần. Đến ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức loại đồng tính ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần. Vì thế, đồng tính không phải bệnh mà đó là một xu hướng tính dục tự nhiên. Người đồng tính cũng là những người nam giới hoặc nữ giới giống như những người dị tính khác trong xã hội, họ chỉ khác nhau ở xu hướng tính dục. Thực tế cho thấy người đồng tính chiếm khoảng 3% - 7% dân số thế giới và xuất hiện ở mọi nền văn hoá, mọi tầng lớp, làm việc bình thường trong mọi ngành nghề, tuy nhiên, cộng đồng người đồng tính vẫn bị phân biệt đối xử và phải chịu nhiều bất công, thiệt thòi ở nhiều nơi trên thế giới.

Thứ hai, lý thuyết về quyền kết hôn của người đồng tính

Quyền kết hôn là một trong những quyền cơ bản của con người. Giống như các quyền khác của quyền con người, quyền kết hôn nói chung và quyền kết hôn của người đồng tính nói riêng là những nhu cầu, đặc quyền tự nhiên vốn có. Quyền con người bao gồm quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc - là những giá trị của tiến bộ xã hội và là thành quả của các cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử nhân loại.

Về quyền bình đẳng, người đồng tính cũng như mọi cá nhân khác trong xã hội, đều được quyền hưởng các quyền bình đẳng, quyền được công nhận, tôn trọng và không bị phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì. Quyền được công khai xu hướng tính dục, bản dạng giới của mình và được sống theo bản năng của xu hướng tính dục, bản dạng giới cũng là một phần của quyền bình  đẳng, tự do. Và nhu cầu công nhận quyền bình đẳng này của người đồng tính hoàn toàn là chính đáng và không ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của cộng đồng, xã hội.

Về quyền mưu cầu hạnh phúc, việc theo đuổi hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Một trong các giá trị hạnh phúc đến từ quyền được kết hôn, được nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân của cá nhân. Nếu việc thực hiện quyền kết hôn của người dị tính rất dễ dàng thì quyền kết hôn của người đồng tính lại rất khó khăn vì không phải quốc gia nào cũng công nhận hôn nhân đồng giới. Cũng có một số quốc gia công nhận hình thức pháp lý thay thế hôn nhân khác dành cho người đồng tính.

Mọi người đều được hưởng các quyền con người. Tuy nhiên, người đồng tính nói riêng và những người thuộc cộng đồng LGBT nói chung đang bị thiệt thòi và không được hưởng quyền con người đầy đủ và bình đẳng như những người khác. “Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử với người đồng tính và chuyển giới được thể hiện dưới nhiều khía cạnh và mực độ khác nhau, từ bị dèm pha, xa lánh, sợ hãi đến đánh đập... Điều này dẫn đến những tổn thương tâm lý vô cùng nghiêm trọng đối với những người đồng tính và chuyển giới như lo âu, trầm cảm, bế tắc...”3. Có thể nói, dù quyền kết hôn là một quyền tự nhiên vốn có của người đồng tính nhưng không phải lúc nào việc công nhận quyền này cũng được thực hiện đầy đủ. việc này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như truyền thống, chính trị, tôn giáo,... ở mỗi quốc gia và khu vực khác nhau.

b) Quyền kết hôn của người đồng tính trong luật nhân quyền quốc tế

Hiến chương Liên hợp quốc đã tuyên bố rằng “công nhận các quyền cơ bản của con người, phẩm chất và giá trị của con người và quyền bình đẳng giữa nam và nữ...”. Điều 1 của Hiến chương cũng quy định rằng “đẩy mạnh và động viên sự tôn trọng các quyền con người và sự tự do cơ bản đối với tất cả mọi người, không có bất kỳ sự phân biệt nào về giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”.

Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người (UDHR) cũng bao gồm sự không phân biệt đối xử, công bằng và ngăn cấm các quốc gia có sự định kiến cá nhân dựa vào các tiêu chuẩn như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hoặc các chính kiến và quan niệm khác, quốc gia và nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi và tình trạng khác4.

Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân đầu tiên được đề cập trong Điều 16 UDHR. Theo đó, nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mình không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam và nữ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi ly hôn. Việc kết hôn chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyên của cặp vợ chồng tương lai (Khoản 1 và 2). Các quy định trên của UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ thể hoá trong Điều 23 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ICESCR).

Liên quan đến Điều 23 ICCPR, Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc (HRC) đã giải thích thêm về ý nghĩa và nội dung của các quyền ghi nhận trong Điều này trong Bình luận chung số 19 thông qua tại phiên họp thứ 39 năm 1990 của Uỷ ban, trong đó về quyền bình đẳng khi kết hôn, HRC đặc biệt lưu ý rằng không được có sự phân biệt đối xử về giới tính liên quan đến việc nhập hay từ bỏ quốc tịch do kết hôn.

Với Bộ nguyên tắc Yogyakarta, quyền của người đồng tính được thể hiện rõ nhất tại ba nguyên tắc đầu tiên: (i) Quyền được thụ hưởng mọi quyền con người trên toàn cầu: mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng về quyền và phẩm giá. Mọi người, bất kể khuynh hướng tính dục hay bản dạng giới đều được hưởng đầy đủ các quyền con người. (ii) Các quyền về bình đẳng và không phân biệt đối xử: mọi người đều có quyền được thụ hưởng mọi quyền con người mà không bị phân biệt đối xử vì khuynh hướng tính dục hay bản dạng giới của họ. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ mà không bị phân biệt đối xử vì những lý do trên, bất kể các quyền con người khác có đồng thời bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt đối xử đó hay không. (iii) Quyền được công nhận trước pháp luật: mọi người ở mọi nơi đều có quyền được công nhận là một cá nhân trước pháp luật. Những cá nhân thuộc các nhóm xu hướng tính dục và bản dạng giới khác nhau đều được hưởng năng lực pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống.

2. Pháp luật một số quốc gia ghi nhận quyền kết hôn của người đồng tính

a) Hà Lan

Năm 2001, Hà Lan là quốc gia đầu tiên hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính. Đây là quốc gia tiên phong trong việc thực hiện cam kết tôn trọng quyền con người của người đồng tính, trong đó có quyền kết hôn.

Hiến pháp Hà Lan đã khẳng định quyền bình đẳng của người đồng tính bằng việc quy định tại Điều 1 rằng “tất cả mọi người Hà Lan sẽ được đối xử bình đẳng. Việc phân biệt đối xử dựa trên các yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, quan điểm chính trị, chủng tộc, giới tính hay bất kỳ yếu tố nào khác sẽ không được phép”.

Đầu những 80 của thế kỷ XX, một nhóm hoạt động vì quyền của người đồng giới, do Henk Krol dẫn đầu - Tổng biên tập của Gay Krant, đã đề nghị Chính phủ cho phép các cặp đồng tính kết hôn. Một Uỷ ban đặc biệt đã được thành lập với nhiệm vụ điều tra khả năng kết hôn đồng tính và kết luận được đưa ra là hôn nhân cần được mở rộng cho các cặp đôi cùng giới tính.

Năm 1998, chế định “kết hợp dân sự” lần đầu xuất hiện trong pháp luật Hà Lan. Chế định này cho phép các cặp đôi đồng tính có thể chung sống với nhau một cách hợp pháp. Bên cạnh đó, Đạo luật đối xử bình đẳng cũng được thông qua, nhờ đó, các cặp đồng tính có thể thiết lập quan hệ kết hợp dân sự và nhận nuôi con nuôi. Đây được coi là giải pháp thay thế trong khi hôn nhân đồng giới ở nước này chưa được công nhận.

Tháng 9/2000, Dự luật về hôn nhân đồng tính đã được thông qua và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/4/2001. Việc công nhận hôn nhân đồng tính là dựa trên nguyên tắc bình đẳng tại Điều 1 Hiến pháp Hà Lan, các Điều ước quốc tế và Án lệ của Toà án tối cao Hà Lan. Theo khoản 1 Điều 30 - Quyển 1 Bộ luật Dân sự Hà Lan: “hôn nhân là việc kết hôn giữa 2 người khác giới tính hoặc cùng giới tính”. Với tư cách là một cặp vợ chồng hợp pháp, cặp đôi đồng tính tại Hà Lan có đầy đủ những quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được quy định cụ thể từ Điều 81 đến Điều 92a, từ đó, pháp luật mới có cơ chế bảo đảm tối đa quyền lợi của các bên trong mối quan hệ với đối phương và thậm chí với bên thứ ba.

b) Pháp

Là quốc gia thứ 14 trên thế giới cho phép các cặp đôi đồng tính kết hôn, hôn nhân đồng tính tại Pháp được công nhận vào năm 2013. Trước khi dự luật được thông qua, pháp luật Pháp đã thông qua chế định PACS - kết đôi dân sự để hợp pháp hoá mối quan hệ chung sống của các cặp đôi (cả dị tính và đồng tính)5. Cũng giống như Hà Lan, chế định PACS là bước đệm để Pháp tiến đến công nhận hôn nhân đồng giới6. Đây là dự luật thu hút sự quan tâm của rất nhiều người và đã diễn ra rất nhiều cuộc biểu tình nhằm phản đối dự luật, thâm chí là những hành động bạo lực. Tuy vậy, trong các cuộc thăm dò phục vụ bỏ phiếu dự luật thì 55-60% người Pháp ủng hộ hôn nhân đồng tính.

Ủy ban Tư vấn quốc gia về quyền con người (CNCDH) đã nói rõ rằng: “Chính biểu tượng (của hôn nhân) này cho phép đưa dự luật vào chính sách công nhận xã hội đối với người đồng tính luyến ái. Hơn nữa, nguyên tắc bình đẳng của mọi công dân trước các thể chế đòi hỏi không được tạo ra một “hôn nhân thứ hai” cho một nhóm công dân”. Gérard Aschieri, thành viên Ủy ban Trung ương LDH, cho biết: Điều đang diễn ra trong “hôn nhân cho tất cả mọi người là sự xem xét đồng thời sự phát triển của thực tế xã hội chúng ta, một bước tiến lớn trong cuộc chiến chống phân biệt đối xử, và một sự tiến bộ không thể chối cãi về bình đẳng quyền lợi”7. Không nghi ngờ gì nữa, chính vấn đề bình đẳng này, cùng với nhận thức về những thay đổi của xã hội, đã khiến từ cuộc thăm dò này đến cuộc thăm dò khác, một đa số rõ ràng người Pháp ủng hộ hôn nhân cho tất cả mọi người.

Dù có nhiều phản đối nhưng dự luật hôn nhân đồng tính đã được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực vào ngày 17/5/2013 (tại Điều 143 Bộ luật Dân sự Pháp). Theo đó, Luật cho phép công nhận hai người cùng giới được tổ chức kết hôn ở nước ngoài trước khi luật này có hiệu lực. Luật này cũng quy định các quy tắc của hôn nhân, đặc biệt là quy định rằng các cặp đôi đồng tính sắp kết hôn có thể tổ chức hôn lễ tại nơi cư trú của họ hoặc nơi cư trú của một trong các bậc phụ huynh của họ. Đối với một cặp đôi đồng tính mà trong đó có một người mang quốc tịch Pháp, cư trú tại một quốc gia cấm hôn nhân đồng tính, họ có thể kết hôn tại Pháp “tại nơi sinh hoặc nơi cư trú cuối cùng” của người còn lại, hoặc tại nơi cư trú của một trong các bậc phụ huynh của họ. Bên cạnh đó, Luật này cũng cho phép cặp đôi đồng tính nhận nuôi con nuôi.

c) Thái Lan

Ngày 24/9/2024, vua Maha Vajiralongkorn đã ký phê chuẩn luật hôn nhân đồng giới, đưa Thái Lan thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên hợp pháp hoá hôn nhân của các cặp đôi đồng tính. Luật này được công bố trên Công báo Hoàng gia và các cặp đôi đồng tính sẽ được phép kết hôn từ tháng 01/2025, đánh dấu việc Thái Lan trở thành quốc gia thứ ba tại châu Á công nhận hôn nhân đồng tính, sau Đài Loan (Trung Quốc) và Nepal8. Luật này này cung cấp đầy đủ các quyền pháp lý, tài chính và y tế cho các cặp đôi thuộc bất kỳ giới tính nào, đã được cả Thượng viện và Hạ viện thông qua vào tháng 4 và tháng 6/2024. Điểm nổi bật của luật này là việc thay đổi các thuật ngữ “nam”, “nữ”, “vợ”, “chồng” thành các thuật ngữ trung lập về giới tính. Luật cũng trao quyền thừa kế và nhận nuôi con nuôi cho các cặp đôi đồng tính, như đối với cặp đôi dị tính. Thái Lan là quốc gia nổi tiếng cởi mở với người đồng tính những vẫn phải vượt qua nhiều rào cản để hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính. Phần lớn xã hội Thái Lan vẫn tồn tại những giá trị bảo thủ, người đồng tính Thái Lan vẫn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử trong cuộc sống hằng ngày. Sự bảo thủ này còn duy trì ngay cả trong bộ máy chính quyền, khiến cho việc ủng hộ bình đẳng giới của các nhà lập pháp và giới chức nước này gặp không ít trở ngại. Tuy vậy, việc dự luật được thông qua đã đánh dấu cột mốc quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của người đồng tính, thể hiện sự công nhận quyền con người của người đồng tính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình trong xã hội tồn tại các tư tưởng bảo thủ.

3. Một số gợi mở về quyền kết hôn của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

a) Quyền kết hôn của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 28/11/2013 đã kế thừa tinh thần về quyền con người của Hiến pháp năm 1992 và có những phát triển quan trọng về quyền con người, các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội cho công dân Việt Nam, trong đó có người đồng tính. Cụ thể, Điều 16 Hiến pháp năm 2013 có quy định “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 26 Hiến pháp năm 2013 còn nghiêm cấm việc phân biệt đối xử về giới. Như vậy, người thuộc cộng đồng LGBT nói chung và người đồng tính ở Việt Nam nói riêng không phải chịu sự phân biệt đối xử gay gắt bởi những quy định khắc nghiệt như bỏ tù, đánh đập, tử hình9 như một số quốc gia khác mà vẫn được hưởng hầu hết các quyền cơ bản của người dị tính. Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa công nhận quyền kết hôn của người đồng tính mặc dù quyền kết hôn là một quyền nhân thân quan trọng của cá nhân và được pháp luật công nhận10.

Luật HNGĐ năm 2014 đã bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, thay vào đó là “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”11. Như vậy, hiện nay, các cặp đôi đồng tính có thể tổ chức hôn lễ, chung sống với nhau, nhưng dưới góc độ pháp lý họ vẫn chưa được công nhận là vợ chồng hợp pháp. Tuy vậy, dù hôn nhân đồng tính vẫn chưa được hợp pháp hoá nhưng đây cũng là kết quả của quá trình vận động và thảo luận xã hội trong nhiều năm, xã hội và các nhà lập pháp đã có những nhìn nhận tích cực và ủng hộ nhất định về quyền kết hôn, bình đẳng của người đồng tính Việt Nam.

b) Một số gợi mở từ pháp luật của Hà Lan, Pháp, Thái Lan cho pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, từng bước tiến đến công nhận hôn nhân đồng giới và các quyền liên quan đến cặp đôi đồng tính

Các văn bản quốc tế về quyền con người luôn nhấn mạnh việc cấm phân biệt đối xử với người đồng tính và đề cao sự tự do, bình đẳng về nhân phẩm và quyền của cá nhân trong xã hội, bao gồm người đồng tính. Dưới góc độ quyền con người nói chung, quyền nhân thân của cá nhân nói riêng, quyền kết hôn là quyền cơ bản của con người. Quyền mưu cầu hạnh phúc là quyền tự nhiên của con người, các cá nhân có toàn quyền tự tìm kiếm hạnh phúc và các giá trị sống cho bản thân bằng chính khả năng của họ12. Mặc dù không cấm nhưng pháp luật Việt Nam cũng không thừa nhận hôn nhân đồng giới, trong khi thực tế nhu cầu được kết hôn/chung sống của các cặp đôi đồng tính ở Việt Nam vẫn đang tồn tại và đang có xu hướng phát triển13. Mặc dù việc công nhận hôn nhân đồng giới luôn gặp phải những trở ngại từ nhiều yếu tố như văn hoá, chính trị, xã hội, tôn giáo, truyền thống... nhưng trong bối cảnh đó, với nhu cầu cấp thiết cần đảm bảo bình đẳng về quyền kết hôn của các cá nhân;  trong nỗ lực tiến tới công nhận hôn nhân đồng giới tại Việt Nam, các nhà lập pháp có thể tham khảo pháp luật của các quốc gia về việc công nhận một hình thức pháp lý dưới dạng “kết đôi dân sự” - cho mối quan hệ sống chung của các cặp đôi đồng tính. Đây vừa là giải pháp trước mắt bảo đảm bình đẳng về quyền kết hôn của người đồng tính vừa là bước đệm để chuẩn bị cho việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới về sau này14. Bên cạnh đó, trong tiến trình công nhận hôn nhân đồng giới, cần thiết phải xem xét và công nhận thêm một số quyền liên quan đến con cái của người đồng tính như: quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, quyền nhận nuôi con nuôi chung, quyền đại diện cho nhau,... với tư cách là đối tác/vợ chồng của nhau. Đây đều là những vấn đề của cặp đôi đồng tính có thể phát sinh ngay cả khi chưa được hợp thức hoá mỗi quan hệ chung sống của họ. Con cái của cặp đôi đồng tính cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi bên cạnh việc công nhận hôn nhân của họ. Quan điểm phản đối cho rằng việc đứa trẻ lớn lên dưới sự chăm sóc của cặp đôi đồng tính sẽ làm ảnh hưởng đến lối sống, tâm lý của đứa trẻ. Điều này là không đúng vì nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có bằng chứng cụ thể cho thấy bất kỳ nguy cơ nào ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ nếu trẻ sống trong gia đình có hai người bố hoặc hai người mẹ15. Trong khi đó, quyền về con cái của người đồng tính cũng là những quyền cơ bản cần được pháp luật quan tâm và bảo đảm.

Thứ hai, nâng cao nhận thức về người đồng tính và quyền kết hôn của người đồng tính

Việc nâng cao nhận thức các vấn đề về người đồng tính có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật. Các cơ quan nhà nước cần có các giải pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền của người đồng tính một cách hiệu quả hơn thông qua việc đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi người về quyền con người; đặc biệt là người đồng tính để họ hiểu và nhận thức được các quyền, nghĩa vụ của họ để có thể tự bảo vệ chính mình. Đội ngũ cán bộ công chức viên chức cần nhận thức đúng đắn về quyền của người đồng tính khi thực hiện nhiệm vụ nhằm tránh tình trạng phân biệt đối xử. Các phương tiện truyền thông cần phát huy hơn nữa vai trò của mình để nâng cao nhận thức về người đồng tính; việc truyền thông cần hướng đến những giá trị chung, phổ biến rộng rãi đến nhiều nơi, nhiều đối tượng khác nhau để tác động đến nhận thức, thái độ của xã hội các vấn đề về người đồng tính, trong đó có quyền kết hôn. Hơn nữa, bản thân người đồng tính cần có những động thái tích cực, thể hiện hình ảnh đẹp, giá trị tốt đẹp, đóng góp ý nghĩa của cộng đồng mình đối với xã hội, góp phần thay đổi định kiến của xã hội đối với người đồng tính. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy cho việc công nhận hôn nhân đồng giới tại Việt Nam.

4. Kết luận

Việc công nhận quyền kết hôn của người đồng tính là một vấn đề nhạy cảm, không chỉ riêng tại Việt Nam. Đồng tính không phải một căn bệnh hay một khiếm khuyết của con người, mà đó là những điều tự nhiên của xã hội loài người. Do đó, những quyền lợi của người đồng tính, trong đó có quyền kết hôn cần được bảo đảm. Tại Việt Nam, xuất phát từ quan niệm truyền thống của một quốc gia Á Đông với sự bó buộc của tư tưởng “hôn nhân dị tính” nên việc công nhận hôn nhân đồng giới vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, xã hội đã có cái nhìn tích cực hơn về hôn nhân đồng tính, trên cơ sở đó pháp luật Việt Nam nên công nhận vấn đề này, bởi không ai có quyền ngăn cản, tước đoạt quyền mưu cầu hạnh phúc của người khác, kể cả người đồng tính. Hơn hết, vấn đề xây dựng một xã hội văn minh, công bằng, tiến bộ, trong đó quyền con người được đảm bảo và thực thi thông qua pháp luật là mục tiêu chung của nhân loại./.

ThS. Võ Thị Ngọc Trân

Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 51 (12/2026)

---

Tài liệu trích dẫn

(1) Trương Hồng Quang, “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.13.

(2) Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, “Hỏi đáp về quyền con người”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2012.

(3) Phạm Thu Hoa, Đồng Thị Yến, “Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử với người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 31, số 5 (2015), tr. 70.

(4) Điều 1 và Điều 2 Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người.

(5) Luật số 99-944 ngày 15/11/1999 về kết đôi dân sự (có hiệu lực từ ngày 16/11/1999), link: https://www.legifrance.gouv.fr/loda/id/LEGIARTI000006284609/1999-11-16#LEGIARTI000006284609 .

(6) Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Liên Đăng Phước Hải, “Hợp đồng chung sống theo quy định của pháp luật Cộng hoà Pháp, Úc và những gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 04/2021, tr. 64-75.

(7) Gérard ASCHIERI, ““Mariage pour tous”: quels enjeux?”, Hommes & Libertés, No161 Mars 2013, p. 12-15.

(8) Ngân Hà, “Hạ viện Thái Lan thông qua dự luật cho phép hôn nhân đồng giới”, Tạp chí điện tử Mekong ASEAN, nguồn: https://mekongasean.vn/ha-vien-thai-lan-thong-qua-du-luat-cho-phep-hon-nhan-dong-gioi-10902.html, ngày truy cập: 16/7/2025.

(9) Thanh Hà, “Quyền LGBT khắp thế giới: Từ cởi mở cho kết hôn tới án tử hình”, Báo Lao Động, nguồn: https://laodong.vn/tu-lieu/quyen-lgbt-khap-the-gioi-tu-coi-mo-cho-ket-hon-toi-an-tu-hinh-1083465.ldo, truy cập ngày 07/4/2025.

(10) Điều 39 BLDS năm 2015 quy định: “1. Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhân làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và quyền khác trong quan hệ hôn nhân,... 2. Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong HNGĐ theo quy định của Bộ luật này, Luật HNGĐ và luật khác có liên quan”.

(11) Khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014.

(12) Đoàn Thị Ngọc Hải, “Công nhận hôn nhân đồng giới ở Hà Lan và một số gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, nguồn: https://tapchitoaan.vn/cong-nhan-hon-nhan-dong-gioi-o-ha-lan-va-mot-so-goi-mo-cho-viet-nam8602.html, truy cập ngày 7/4/2025.

(13) Bùi Thị Hồng, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, “Quan điểm xã hội về hôn nhân đồng tính ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 4, 2023, tr.46.

(14) Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Liên Đăng Phước Hải, “Hợp đồng chung sống theo quy định của pháp luật Cộng hoà Pháp, Úc và những gởi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 04, 2021, tr. 64-75.

(15) Trương Hồng Quang, “Quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, 2019, tr.49.