Hiện nay, trong khoa học pháp lý đã có nhiều nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó góp phần quan trọng trong bảo đảm dân chủ và kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta. Mặc dù quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn còn khá ít công trình nghiên cứu nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin, từ đó đã ít nhiều gây nên những khó khăn nhất định trong thực tiễn. Bài viết phân tích các nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện nghĩa vụ này trong thời gian tới.

Ảnh minh họa. Nguồn: vietnamplus.vn.
Đặt vấn đề
Tiếp cận thông tin (TCTT) là một quyền hiến định, gắn liền với thực hiện dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và phát huy vai trò giám sát của nhân dân trong quản lý nhà nước. Ở nước ta, quyền TCTT đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và nhiều văn bản pháp luật. Sau khi Hiến pháp năm 2013 hiến định rõ quyền này, việc ban hành đạo luật để bảo đảm thực hiện quyền TCTT là rất cần thiết. Luật TCTT năm 2016 là văn bản luật đầu tiên Việt Nam xây dựng để thể chế hoá Hiến pháp về quyền TCTT, và được cụ thể hoá qua nhiều văn bản pháp luật có liên quan khác. Trong suốt thời gian dài kể từ khi có chủ trương xây dựng cũng như sau khi ban hành Luật TCTT đã có nhiều nghiên cứu về quyền TCTT. Tuy nhiên, quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ, nghĩa vụ của công dân chính là điều kiện để bảo đảm thực hiện quyền. Nhưng do nhiều nguyên nhân, hiện nay có khá ít công trình nghiên cứu đến nghĩa vụ của công dân trong TCTT. Mới đây, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66) đặt ra yêu cầu “Tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”. Với tính chất TCTT là tiền đề để thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của con người, công dân, việc nghiên cứu nghĩa vụ của công dân theo pháp luật về TCTT rất cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.
1. Khái quát về nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin
Quyền TCTT của công dân là khả năng của công dân được tự do lựa chọn cách thức xử sự theo ý chí của mình mà pháp luật không cấm để biết được thông tin của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận1. Nhưng quyền TCTT của công dân cũng bị giới hạn, theo đó, công dân không thể “muốn làm gì thì làm” hay là “được làm tất cả những gì mình muốn”. Bản chất của mỗi con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, quyền của người này phải luôn đặt trong sự tôn trọng quyền của người khác; cũng như quy tắc chung của cộng đồng là mỗi người phải tôn trọng cái chung, từ đó mới có điều kiện tự do hành động nhằm đáp ứng quyền lợi riêng của mình. Quyền TCTT của công dân này trong một số trường hợp bị giới hạn bởi quyền TCTT của công dân khác và của cả cộng đồng.
Quyền TCTT của công dân không thể tách rời nghĩa vụ của công dân trong TCTT, nhưng khác với quyền của công dân trong TCTT, nghĩa vụ của công dân trong TCTT là những xử sự bắt buộc, không thể không thực hiện. Những xử sự mà công dân phải thực hiện trong TCTT được gọi là nghĩa vụ. Chẳng hạn, nếu sử dụng quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin thì công dân phải có nghĩa vụ thực hiện các xử sự nhất định theo quy định của pháp luật.
Theo lý luận chung, nghĩa vụ pháp lý của công dân trong TCTT bao gồm những sự cần thiết phải xử sự sau: thứ nhất, phải tiến hành thực hiện đúng các quy định trong TCTT2. Để thực hiện hiệu quả xử sự này đòi hỏi các quy định phải được ban hành đúng thẩm quyền, có sự thống nhất, đồng bộ giữa các lĩnh vực. Bên cạnh đó, các quy định về thủ tục thực hiện phải công khai, minh bạch, cũng như bảo đảm tính đơn giản, tiết kiệm, nhanh chóng, kịp thời và bình đẳng cho mọi người dân trong thực hiện; thứ hai, công dân kiềm chế không được xâm hại việc TCTT của người khác3. Các quy định của pháp luật phải đủ rõ ràng để cung cấp cho các chủ thể những dự đoán nhằm điều chỉnh hành vi của họ, đồng thời để bảo vệ họ trước sự xâm hại của chủ thể khác. Nếu pháp luật không thể dự liệu được các hành vi có thể xâm hại đến quyền công dân, trong tương lai nếu có xảy ra hành vi xâm hại quyền công dân thì sẽ không đủ cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền công dân trong TCTT. Bên cạnh đó, pháp luật không nên quy định theo hướng “đóng khung”, cố định các hành vi bị nghiêm cấm trong TCTT vì sẽ chưa thể hoặc không thể liệt kê được hết những hành vi có thể xảy ra ở hiện tại hay tương lai, khiến quy định khó mang tính dự báo và tính ổn định không cao khi triển khai thực hiện; thứ ba, công dân phải chịu trách nhiệm pháp lý khi xử sự không đúng với những quy định pháp luật4. Đây là biện pháp nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, cũng như bảo đảm cho việc TCTT được thực hiện ổn định, bền vững. Bên cạnh đó nhằm xử lý người vi phạm pháp luật, trừng phạt, cải tạo, giáo dục để ngăn họ không tiếp tục vi phạm.
Nghĩa vụ của công dân trong TCTT ở nước ta hiện nay được quy định trong Hiến pháp và các văn bản luật. Hiến pháp quy định nghĩa vụ chung, cơ bản của công dân, còn các văn bản luật chuyên ngành thì cụ thể hóa trong từng lĩnh vực TCTT. Bởi TCTT là một vấn đề rộng, có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội,... nếu chỉ quy định trong Hiến pháp và trong một văn bản luật sẽ khó bảo đảm tính đầy đủ. Trong việc TCTT, công dân có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về TCTT, không làm sai lệch nội dung thông tin, và không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc người khác. Bên cạnh đó, công dân không được tiếp cận những thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, hoặc thông tin liên quan đến bí mật công tác. Đây là những nghĩa vụ chung của công dân trong pháp luật về TCTT hiện hành, những nghĩa vụ cụ thể trong từng lĩnh vực được pháp luật chuyên ngành quy định.
Việc công dân tự giác, nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật TCTT không chỉ là hành vi chấp hành pháp luật đơn thuần, mà là biểu hiện sinh động của văn hóa tuân thủ pháp luật, là sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong đời sống hằng ngày. Khi hành vi này trở thành thói quen xã hội, pháp luật không chỉ được thi hành bằng cưỡng chế, mà được thực thi bằng niềm tin, tri thức và văn hóa - đó chính là biểu hiện cao nhất của một xã hội pháp quyền văn minh trong kỷ nguyên mới mà Nghị quyết số 66 đã xác định.
Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của chuyển đổi số, dữ liệu mở và toàn cầu hóa thông tin - việc thực hiện nghĩa vụ của công dân theo pháp luật về TCTT chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan. Cụ thể, đó là các yếu tố cơ bản như: nhận thức pháp luật và văn hóa pháp lý của công dân; yếu tố pháp luật và cơ chế thực thi; yếu tố công nghệ và chuyển đổi số; yếu tố đạo đức xã hội và môi trường truyền thông.
2. Thực trạng thực hiện nghĩa vụ của công dân trong pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay
a) Những kết quả đạt được
Thứ nhất, phần lớn người dân đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức yêu cầu cung cấp thông tin.
Trước đây, sự thiếu thống nhất trong quy định về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu là một vấn đề thực tế có thể gây khó khăn cho người dân trong việc thực hiện quyền TCTT. Mỗi cơ quan, đơn vị có thể có quy trình, mẫu đơn, hoặc cách thức tiếp nhận yêu cầu khác nhau (trực tiếp, trực tuyến, qua bưu chính), khiến người dân khó nắm bắt và thực hiện đúng ngay từ đầu, dẫn đến việc phải đi lại, bổ sung hồ sơ nhiều lần. Luật TCTT năm 2016 đã quy định khung chung về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền TCTT góp phần tạo cơ sở pháp lý giúp người dân biết thủ tục khi muốn yêu cầu cung cấp thông tin không được công khai. Theo báo cáo tình hình 05 năm triển khai thi hành Luật TCTT năm 2016 ở một số địa phương thì người dân đã gửi yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin5, điều đó cho thấy rằng người dân đã tự giác thực hiện nghiêm nghĩa vụ tuân thủ quy định pháp luật về TCTT.
Thứ hai, về cơ bản đa số người dân không xâm hại quyền TCTT của người khác.
Về cơ bản, đa số người dân Việt Nam hiện nay có ý thức tôn trọng và không xâm hại quyền TCTT của người khác, qua đó góp phần thực hiện tốt nghĩa vụ công dân trong TCTT. Người dân hiểu rằng quyền TCTT không chỉ là quyền hiến định, mà còn gắn liền với trách nhiệm sử dụng thông tin đúng mục đích, trung thực và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Nhìn chung, sau khi tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin của người dân, các cơ quan đã tiến hành triển khai các hoạt động cần thiết để cung cấp thông tin cho người dân hoặc không thực hiện cung cấp thông tin đối với thông tin công dân không được tiếp cận theo đúng quy định của pháp luật. Công chức, viên chức đầu mối sau khi tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin từ công dân đã tiến hành ghi sổ theo dõi cung cấp thông tin theo yêu cầu, đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan để thực hiện rà soát, kiểm tra tính bí mật của thông tin và xử lý thông tin trước khi cung cấp thông tin cho công dân theo quy định pháp luật nhằm đảm bảo các thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin bí mật khác không được cung cấp trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, doanh nghiệp, cộng đồng, xã hội. Kết quả này cho thấy đa số công dân Việt Nam đã nhận thức rõ và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ TCTT, góp phần hình thành văn hóa pháp lý công dân tiến bộ, thúc đẩy công khai, minh bạch trong quản trị nhà nước.
Đạt được những kết quả kể trên, trước hết là do hệ thống pháp luật về nghĩa vụ TCTT của công dân ngày càng đầy đủ, nhất là kể từ khi Luật TCTT năm 2016 ra đời đã quy định khá cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong TCTT. Một số cơ quan nhà nước chủ động cung cấp thông tin, bảo đảm điều kiện cho người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ. Người dân ngày càng quan tâm đến TCTT.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được như trên, nghĩa vụ trong TCTT của công dân còn một số hạn chế nhất định cần thiết phải có sự nghiên cứu để có cơ sở đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ TCTT của công dân ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
b) Một số khó khăn, hạn chế
Thứ nhất, còn tình trạng người dân thực hiện chưa đúng các quy định trong TCTT.
Dù Luật TCTT năm 2016 đã mở ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho quyền được tiếp cận thông tin của công dân, nhưng trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng người dân thực hiện chưa đúng các quy định dẫn đến các nghĩa vụ trong TCTT được thực hiện chưa nghiêm. Theo Luật TCTT năm 2016, khi công dân yêu cầu cung cấp thông tin, phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, phạm vi và thẩm quyền của cơ quan nhà nước, và người yêu cầu phải tuân thủ các quy định về cách thức, nội dung, không yêu cầu những thông tin được bảo mật hoặc không thuộc thẩm quyền. Tuy nhiên, nhiều người dân hiện nay vẫn gửi yêu cầu cung cấp thông tin mà không biết rõ cơ quan nào có thẩm quyền, hoặc nêu yêu cầu quá chung chung, không cụ thể nội dung cần tiếp cận, dẫn đến bị từ chối hoặc bị trả lời không đúng yêu cầu. Chẳng hạn, một số bộ phận người dân chưa thực sự hiểu rõ cách thức TCTT trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền. Một số bộ phận khác thì không quan tâm hoặc không biết đến quyền được TCTT đất đai. Nhìn chung, vấn đề tiếp cận nguồn thông tin về chính sách, pháp luật của nhà nước, tìm và hỏi cán bộ “quen” vẫn là kênh thông tin chính sách chủ yếu (chiếm 38,43%), tiếp sau là hỏi thông tin từ người thân, bạn bè; nêu câu hỏi trên trang mạng xã hội để nhờ chia sẻ thông tin; tìm thông tin trên cổng thông tin điện tử của chính quyền địa phương… Chỉ có 1,91% người dân được hỏi cho biết gửi thư điện tử yêu cầu chính quyền địa phương cung cấp thông tin và 0,79% người viết thư tay yêu cầu chính quyền địa phương cung cấp thông tin6. Theo Nghiên cứu Đánh giá việc công khai thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện và bảng giá đất cấp tỉnh trên môi trường điện tử năm 2022, có tình trạng các cơ quan nhà nước từ chối cung cấp thông tin vì lý do không đủ cơ sở để xem xét; đơn gửi sai mục đích yêu cầu; thư gửi sai mẫu, không đưa lý do cụ thể7.
Bên cạnh đó, một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến việc triển khai thực hiện các quy định của Luật TCTT, chưa kịp thời ban hành Quy chế nội bộ cung cấp thông tin cho công dân, còn chậm lập Danh mục thông tin phải được công khai và Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện, dẫn đến việc thực hiện một số quy định về nghĩa vụ trong TCTT của người dân chưa đầy đủ, chính xác và kịp thời. Vẫn còn tình trạng người dân chưa nắm được đầy đủ các quy định về nghĩa vụ TCTT, vì vậy còn e ngại khi đưa ra yêu cầu cung cấp thông tin đối với cơ quan nhà nước. Họ chủ yếu TCTT qua các văn bản được niêm yết, thông qua các buổi họp thôn, xóm, tổ dân phố để tuyên truyền phổ biến về chế độ, chính sách.
Thứ hai, nhiều trường hợp sử dụng thông tin sai mục đích, xuyên tạc, bôi nhọ, gây mất an ninh thông tin, đặc biệt trên môi trường mạng.
Sự phát triển của internet nói chung và mạng xã hội nói riêng đã làm thay đổi cuộc sống con người hàng ngày, hàng giờ. Các mạng xã hội như Facebook, Tiktok, Instagram... có vai trò quan trọng, thu hút đông đảo công chúng tham gia. Chỉ cần có máy tính hoặc điện thoại thông minh có kết nối internet là người dùng có thể thoải mái bày tỏ ý kiến, quan điểm cá nhân của mình lên trên mạng xã hội ở bất kỳ đâu, với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào mà không bị kiểm soát hoặc hạn chế. Nhiều đối tượng đã đăng tải, tán phát nhiều tin giả, tin sai sự thật liên quan đến kinh tế, tài chính, tiền tệ, mục đích nhằm gây hoang mang dư luận, gây rối loạn, mất an ninh, an toàn thị trường, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích, hoạt động bình thường của người dân, nhà đầu tư, doanh nghiệp. Tin giả, tin sai sự thật có tác động tiêu cực, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân; ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tác động tiêu cực đến nhiều mặt trong đời sống xã hội. Chẳng hạn như đưa thông tin sai sự thật để “câu view”, “câu like” tăng lượng tương tác, phát tán thông tin thiếu kiểm chứng, bị cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính. Mới đây, ngày 25/5/2024, Công an quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã xử phạt chị N.T.H.N, (sinh năm 1996, trú tại quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội) là chủ tài khoản Facebook có tên “H.N” và chị N.T.A (sinh năm 1986, trú tại quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội) là chủ tài khoản Facebook có tên “M.A.O.W” về hành vi đăng tải thông tin không chính xác đến vụ cháy xảy ra tại số 01 ngách 43/98/31 phố Trung Kính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội ngày 25/5/2024. Tại Công an quận Cầu Giấy, chị N và chị A đã thừa nhận hành vi vi phạm của bản thân vì muốn tăng tương tác cho tài khoản Facebook cá nhân và thiếu hiểu biết, chưa kiểm chứng nguồn thông tin trên mạng xã hội nên đã chia sẻ bài viết và thông tin chưa được kiểm chứng liên quan đến vụ hỏa hoạn trên. Chị N.T.H.N và chị N.T.A tự giác gỡ bỏ bài viết và cam kết không tái phạm8.
Thứ ba, việc xử lý vi phạm TCTT còn chưa nghiêm.
Mặc dù Luật TCTT năm 2016 đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân trong TCTT, song trên thực tế, việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về TCTT còn chưa nghiêm, thiếu thống nhất, dẫn đến tình trạng nghĩa vụ TCTT của người dân chưa được bảo đảm đầy đủ, còn hình thức và chưa trở thành thói quen pháp lý trong đời sống xã hội. Nhiều cơ quan, tổ chức chưa thực hiện nghiêm việc công khai thông tin bắt buộc theo quy định tại Điều 17 Luật TCTT năm 2016, đặc biệt là các thông tin về quy hoạch, ngân sách, đầu tư công và công tác cán bộ. Một số nơi vẫn để xảy ra tình trạng “công khai chậm”, “công khai hình thức”, hoặc từ chối cung cấp thông tin không đúng căn cứ pháp luật. Việc xử lý vi phạm của cả cơ quan nhà nước và cá nhân có hành vi cản trở, từ chối, hoặc sử dụng sai mục đích thông tin còn thiếu tính răn đe. Theo rà soát của tác giả, từ năm 2018 đến nay, hầu như chưa có vụ việc nào bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm pháp lý theo quy định tại Nghị định số 13/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật TCTT. Điều này cho thấy pháp luật đã có, nhưng khâu thực thi còn yếu, làm giảm tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật và khiến quyền, nghĩa vụ của công dân chưa được bảo đảm thực chất. Khi cơ quan nhà nước, cá nhân vi phạm mà không bị xử lý, công dân cũng khó hình thành ý thức pháp lý đúng đắn, từ đó làm suy giảm tính tự giác trong việc tuân thủ nghĩa vụ khi tiếp cận và sử dụng thông tin của công dân.
Công dân hầu như chưa hiện thực hóa khả năng yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền TCTT của mình khi quyền TCTT của công dân bị vi phạm, điều đó chứng tỏ rằng nghĩa vụ trong TCTT cũng chưa được thực hiện hiệu quả.
Những hạn chế trên đến từ các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Về nguyên nhân khách quan, các quy định pháp luật quy định nghĩa vụ công dân trong TCTT chưa hoàn thiện, nhất là nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng, thậm chí không phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về hạn chế nghĩa vụ công dân và thiếu chế tài xử lý nghiêm minh. Về nguyên nhân chủ quan, việc thực thi pháp luật TCTT còn chưa thực sự nghiêm minh, nhất quán. Nhận thức về nghĩa vụ pháp lý khi TCTT còn thấp, nhiều người dân chỉ quan tâm đến quyền mà bỏ qua nghĩa vụ.
3. Giải pháp hoàn thiện nghĩa vụ của công dân theo pháp luật về tiếp cận thông tin
Thứ nhất, thường xuyên, liên tục giáo dục, phổ biến pháp luật về TCTT với nhiều hình thức phong phú, đa dạng phù hợp với từng đối tượng nhằm nâng cao nhận thức của người dân về TCTT, giúp mỗi cá nhân trở thành “nhà báo công dân” khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên mạng xã hội một cách có kiểm chứng, chọn lọc, tôn trọng chuẩn mực pháp lý và đạo đức. Thông tin phải được khai thác, sử dụng phục vụ tri thức, sáng tạo, đổi mới, bảo vệ môi trường, vì lợi ích chung của cộng đồng. Đưa nội dung pháp luật về TCTT vào chương trình giáo dục công dân, đào tạo cán bộ, công chức. Đẩy mạnh truyền thông qua báo chí, mạng xã hội, các mô hình tư vấn pháp luật cộng đồng. Tăng cường đối thoại, tiếp nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc về thông tin theo pháp luật của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, địa phương.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ TCTT của công dân. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TCTT, đặc biệt là các nghĩa vụ cụ thể của công dân trong trường hợp người dân không được TCTT trong từng lĩnh vực phù hợp với nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Cần hoàn thiện các quy định về TCTT bằng cách quy định đầy đủ các chế tài (chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài kỉ luật nhà nước và chế tài dân sự) đối với từng loại chủ thể là tổ chức, cá nhân hay là các cơ quan nhà nước từ đó góp phần tuân thủ nghĩa vụ trong TCTT.
Thứ ba, đề cao công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm pháp luật TCTT đi đôi với việc tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật TCTT. Tăng cường chế tài và cơ chế giám sát việc thực hiện nghĩa vụ trong TCTT. Xây dựng hệ thống giám sát thông tin đa chiều, đặc biệt trên không gian mạng. Xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng quyền tiếp cận thông tin để chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.
Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể trong hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách hiệu quả. Tổ chức các diễn đàn trao đổi, tham vấn về quyền và nghĩa vụ TCTT.
4. Kết luận
Quyền TCTT là một thành tố quan trọng trong việc bảo đảm dân chủ và minh bạch trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, để quyền này được thực hiện đúng đắn và bền vững, cần nhận thức đầy đủ và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ pháp lý đi kèm. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả là những bước đi cần thiết để xây dựng một xã hội thông tin lành mạnh, văn minh và tiến bộ, phát huy nhân tố con người từ đó góp phần phát triển đất nước bền vững và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới./.
TS. Dương Văn Quý
Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 51 (12/2026)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) Dương Văn Quý (2023), “Thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Luật học, số 11, tr. 13.
(2) Điểm a, khoản 2 Điều 8 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
(3) Điểm c, khoản 2 Điều 8 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
(4) Điều 15 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
(5) Dương Văn Quý (2023), Tlđd, tr. 17.
(6) Bùi Thị Thuận Ánh (2024), Quyền tiếp cận thông tin đất đai ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị hoàn thiện, https://tapchicongthuong.vn/quyen-tiep-can-thong-tin-dat-dai-o-viet-nam-hien-nay-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien-121319.htm, truy cập ngày 14/10/2025.
(7) Đàm Thị Mai Oanh (2023), Quyền tiếp cận thông tin trong lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, https://tapchimoitruong.vn/chuyen-muc-3/quyen-tiep-can-thong-tin-trong-lap-va-thuc-hien-quy-hoach-ke-hoach-su-dung-dat-28901, truy cập ngày 14/10/2025.
(8) Nguyễn Văn Nguyên (2024), Thực trạng tin giả, tin sai sự thật trên mạng xã hội và giải pháp, https://danchuphapluat.vn/thuc-trang-tin-gia-tin-sai-su-that-tren-mang-xa-hoi-va-giai-phap, truy cập ngày 15/5/2025.