Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định mạnh mẽ quan điểm “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể” và nhấn mạnh việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân xuyên suốt ba trụ cột nền tảng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, để phù hợp với yêu cầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và hội nhập quốc tế sâu rộng, dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn, bài viết đề xuất nâng tầm quyền con người xã hội chủ nghĩa thành trụ cột nền tảng thứ tư, làm “sợi chỉ đỏ” tổng hòa và định hướng các trụ cột kinh tế, pháp quyền, dân chủ.

Ảnh minh họa. Nguồn: nhandan.vn

1. Đặt vấn đề

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, dự kiến tổ chức vào đầu năm 2026, không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại đánh dấu mốc son trong hành trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta mà còn là dịp để định hướng chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) vào năm 2045 [1]. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV đã kế thừa và phát triển sáng tạo lý luận về đường lối đổi mới, khẳng định rõ ràng mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) Việt Nam được xây dựng trên ba trụ cột nền tảng: (i) Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; (ii) Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; (iii) Nền dân chủ XHCN [2]. Trong đó, quan điểm “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể” được nhấn mạnh xuyên suốt như một sợi chỉ đỏ, đồng thời việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân được xác định là nội hàm cốt lõi, bản chất ưu việt của Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN [3].

Từ góc độ pháp lý về quyền con người, Dự thảo Báo cáo chính trị đã thể hiện sự nhất quán với Hiến pháp năm 2013 - văn kiện pháp lý cao nhất khẳng định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [4]. Điều này không chỉ phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người - Người khẳng định mục đích của CNXH là “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” [5] - mà còn phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người 1948 và hai công ước cốt lõi của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị và quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966[6].

Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những chuyển biến sâu sắc chưa từng có - với sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số toàn diện, toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các cường quốc, cùng những thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và bất bình đẳng xã hội - quyền con người không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề đạo đức và chính trị nữa, vì vậy đã trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ nhất, trụ cột nền tảng để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN [7]. Đặc biệt, các vấn đề quyền con người mới nổi như quyền riêng tư dữ liệu trong không gian mạng, quyền tiếp cận công nghệ số bình đẳng, an ninh con người trong bối cảnh chuyển đổi xanh và kinh tế số đòi hỏi phải được tiếp cận ở tầm chiến lược cao hơn, gắn chặt với hội nhập quốc tế sâu rộng và vị thế ngày càng nâng cao của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc [8].

Việc nâng tầm quyền con người XHCN thành trụ cột nền tảng thứ tư - độc lập và ngang hàng bên cạnh ba trụ cột hiện có - không chỉ là yêu cầu khách quan từ thực tiễn phát triển đất nước mà còn là bước tiến lý luận quan trọng, góp phần hoàn thiện mô hình CNXH Việt Nam, củng cố tính chính danh và sức thuyết phục của con đường mà Đảng và Nhân dân ta kiên định lựa chọn, đồng thời tăng cường vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế trong lĩnh vực quyền con người [9]. Đây chính là cơ sở để đề xuất góp ý hoàn thiện Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, nhằm khẳng định rõ hơn vai trò trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của quyền con người XHCN trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc [10].

2. Quyền con người xã hội chủ nghĩa - Giá trị cốt lõi xuyên suốt đường lối của Đảng

Quyền con người XHCN là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, thể hiện bản chất nhân văn sâu sắc, ưu việt của chế độ XHCN, nơi con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể, trung tâm, mục tiêu và động lực của mọi quá trình phát triển xã hội [11]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn nhân văn sâu sắc, đã khẳng định rõ ràng rằng mục đích cao cả nhất của CNXH chính là “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, làm cho nhân dân ngày càng được hạnh phúc” [12], đồng thời nhấn mạnh quyền con người phải gắn liền với độc lập dân tộc và CNXH, ai cũng được hưởng tự do và hạnh phúc thực chất, không phải là những khái niệm trừu tượng mà là quyền được sống ấm no, tự do, bình đẳng trong một xã hội công bằng, văn minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam, kế thừa và phát triển tư tưởng đó, từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng phải là xã hội mà “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [13], đến Văn kiện Đại hội XIII (2021) đã quán triệt sâu sắc hơn quan điểm con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển, với phương châm thực hành dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” [14]. Quan điểm này không chỉ là sự tiếp nối mà còn là bước phát triển lý luận quan trọng, gắn quyền con người với quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật [15].

Trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV (2025), quyền con người XHCN được tích hợp sâu sắc và xuyên suốt vào các trụ cột nền tảng của mô hình CNXH Việt Nam. Cụ thể, trong trụ cột Nhà nước pháp quyền XHCN, quyền con người được nhấn mạnh là nội hàm cốt lõi để bảo vệ công lý, lẽ phải, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân [16]; trong trụ cột nền dân chủ XHCN, quyền con người được thể hiện qua việc thực hành dân chủ trực tiếp và đại diện, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” làm nền tảng để nhân dân thực sự làm chủ [17]. Điều này phản ánh sự nhất quán với Hiến pháp năm 2013 - văn kiện pháp lý cao nhất quy định rõ ràng tại Điều 14 rằng “các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [18], đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, như Công ước Quốc tế về Quyền dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR) và Công ước Quốc tế về Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR) [19].

Thực tiễn gần 40 năm Đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh một cách sinh động rằng việc bảo đảm quyền con người thực chất chính là động lực mạnh mẽ nhất để khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí tự cường dân tộc và sức sáng tạo của toàn dân. Những thành tựu nổi bật như việc Việt Nam đạt Chỉ số Phát triển Con người (HDI) năm 2023 là 0.766, thuộc nhóm cao, xếp hạng 93/193 quốc gia [20], hay Chỉ số Hạnh phúc Thế giới năm 2025 xếp hạng 46/143 quốc gia - tăng đáng kể so với các năm trước (từ vị trí 54 năm 2024 và 65 năm 2023) [21] - chính là minh chứng thuyết phục cho hiệu quả của đường lối bảo đảm quyền con người XHCN. Những con số này không chỉ phản ánh sự cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân mà còn khẳng định rằng, dưới chế độ XHCN, quyền con người được bảo đảm toàn diện, thực chất, gắn liền với tiến bộ xã hội, công bằng và phát triển bền vững.

Từ góc độ pháp lý về quyền con người, có thể thấy rằng quyền con người XHCN không chỉ là giá trị đạo đức nhân văn mà còn là nền tảng pháp lý - chính trị để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, như được khẳng định trong Nghị quyết 27-NQ/TW (2022) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, nơi quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật là một trong những đặc trưng cơ bản [22]. Đây chính là sự thể hiện sâu sắc bản chất “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” của Nhà nước ta, đồng thời là cơ sở để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về tình hình quyền con người ở Việt Nam trên trường quốc tế.

Tóm lại, quyền con người XHCN đã và đang là giá trị cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối của Đảng, từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến các văn kiện đại hội, đặc biệt trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV, khẳng định vị trí trung tâm của con người trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, góp phần xây dựng một xã hội mà mọi người dân đều được sống ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện [23].

3. Sự cần thiết xác lập quyền con người xã hội chủ nghãi là trụ cột nền tảng thứ tư

Ba trụ cột nền tảng hiện tại của mô hình CNXH Việt Nam - nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, và nền dân chủ XHCN - đã chứng minh là nền tảng vững chắc, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua [24]. Tuy nhiên, trong bối cảnh kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc bảo đảm quyền con người XHCN không chỉ là nội hàm tích hợp trong các trụ cột hiện có mà cần được xác lập độc lập như một trụ cột nền tảng thứ tư, làm “sợi chỉ đỏ” định hướng, tổng hòa và nâng tầm giá trị nhân văn ưu việt của toàn bộ mô hình CNXH Việt Nam [25].

Từ góc độ pháp lý về quyền con người, quyền con người XHCN đóng vai trò định hướng then chốt đối với từng trụ cột. Trước hết, với trụ cột kinh tế thị trường định hướng XHCN, quyền con người XHCN bảo đảm các quyền kinh tế cơ bản như quyền lao động, việc làm; quyền sở hữu tài sản; quyền tự do kinh doanh, tạo cơ sở vật chất vững chắc để giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và là điều kiện nền tảng cho việc bảo đảm quyền an sinh xã hội, phân phối công bằng thành quả phát triển, phù hợp với nguyên tắc “phát triển kinh tế là nền tảng, nhưng vì con người và do con người làm chủ” [26]. Không có sự bảo đảm quyền kinh tế thực chất, trụ cột kinh tế dễ rơi vào tình trạng tăng trưởng hình thức, bất bình đẳng gia tăng, làm suy yếu động lực nội sinh của xã hội.

Tiếp theo, với trụ cột Nhà nước pháp quyền XHCN, quyền con người chính là cơ chế cốt lõi để bảo vệ quyền dân sự và chính trị, kiểm soát hiệu quả quyền lực nhà nước, bảo đảm công lý và lẽ phải trong đời sống xã hội [27]. Như Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022) đã khẳng định, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”, với hệ thống pháp luật hoàn thiện, thực thi nghiêm minh và cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ [28]. Quyền con người ở đây không chỉ là đối tượng bảo vệ mà còn là tiêu chí đánh giá hiệu quả của Nhà nước pháp quyền, ngăn ngừa lạm quyền và bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Cuối cùng, với trụ cột nền dân chủ XHCN, quyền con người XHCN là hình thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, khi  mà dân chủ đã trở thành giá trị phổ quát toàn cầu, thông qua phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” [29]. Dân chủ XHCN không phải là dân chủ hình thức mà phải gắn liền với quyền con người được bảo đảm toàn diện, từ quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội đến quyền thụ hưởng thành quả phát triển, từ đó khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân vững chắc.

Việc xác lập quyền con người XHCN làm trụ cột thứ tư sẽ tổng hòa, liên kết chặt chẽ và định hướng vận hành thống nhất ba trụ cột hiện có, phản ánh rõ nét bản chất ưu việt, nhân văn của CNXH khoa học - nơi con người không chỉ là mục tiêu cuối cùng mà còn là chủ thể, trung tâm và động lực phát triển [30]. Đây là bước tiến lý luận cần thiết để đáp ứng các vấn đề quyền con người mới nổi trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số, như quyền riêng tư dữ liệu cá nhân trong không gian mạng, quyền tiếp cận bình đẳng công nghệ số và tri thức, quyền bảo vệ an ninh con người mở rộng (bao gồm an ninh kinh tế, lương thực, môi trường và sức khỏe) [31]. Những vấn đề này đòi hỏi cách tiếp cận chiến lược, không chỉ tích hợp mà phải nâng tầm quyền con người lên vị trí trụ cột độc lập để làm nền tảng pháp lý - chính trị cho quản trị quốc gia hiện đại.

Hơn nữa, việc xác lập trụ cột thứ tư sẽ củng cố lập trường chủ động, vững vàng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về tình hình quyền con người ở Việt Nam, đồng thời nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế đa phương như Liên hợp quốc, ASEAN và các cơ chế quyền con người khu vực [32]. Thực tiễn cho thấy, Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể trong bảo đảm quyền con người, như Chỉ số Phát triển Con người (HDI) năm 2023 đạt 0.766 (nhóm cao, xếp hạng 93/193 quốc gia) [33] và Chỉ số Hạnh phúc Thế giới năm 2025 xếp hạng 46/143 quốc gia (tăng mạnh từ vị trí 54 năm 2024 và 65 năm 2023) [34], nhưng để duy trì và nâng cao hơn nữa, cần khung lý luận hoàn chỉnh với quyền con người XHCN làm trụ cột nền tảng.

Tóm lại, sự cần thiết xác lập quyền con người XHCN là trụ cột thứ tư xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, nhằm hoàn thiện mô hình CNXH Việt Nam, khẳng định bản chất nhân văn ưu việt của chế độ và tạo động lực nội sinh mạnh mẽ để thực hiện khát vọng dân tộc phồn vinh, hạnh phúc đến năm 2045 [35].

4. Một số đề xuất hoàn thiện Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV

Để cụ thể hóa việc nâng tầm quyền con người XHCN thành trụ cột nền tảng thứ tư trong mô hình CNXH Việt Nam, đồng thời khẳng định rõ hơn vai trò trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực nội sinh của quyền con người trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần có những điều chỉnh, bổ sung cụ thể, có tính đột phá vào Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV [36]. Những đề xuất này không chỉ xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới mà còn nhằm đáp ứng thực tiễn bảo đảm quyền con người thực chất, toàn diện trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và các thách thức mới từ chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư [37].

Trước hết, đề xuất bổ sung và khẳng định rõ ràng trong phần II Dự thảo Báo cáo chính trị - phần tổng kết lý luận về đường lối đổi mới và xác lập mô hình CNXH Việt Nam - nội dung: Mô hình CNXH Việt Nam được xây dựng trên bốn trụ cột nền tảng: (i) Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; (ii) Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; (iii) Nền dân chủ XHCN; (iv) Quyền con người XHCN - là mục tiêu tối thượng, là động lực nội sinh mạnh mẽ nhất, làm “sợi chỉ đỏ” định hướng và tổng hòa các trụ cột còn lại [38]. Việc bổ sung trụ cột thứ tư này sẽ phản ánh bước tiến lý luận quan trọng, khẳng định bản chất nhân văn ưu việt của CNXH khoa học ở Việt Nam, nơi quyền con người không chỉ là nội hàm tích hợp mà là giá trị cốt lõi, xuyên suốt, bảo đảm con người thực sự là trung tâm của mọi chiến lược phát triển [39]. Điều này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, nhấn mạnh việc “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân” như đặc trưng cơ bản [40].

Thứ hai, đề xuất bổ sung vào phần các nhiệm vụ trọng tâm một nội dung mới hoặc mở rộng nhiệm vụ hiện có: Hoàn thiện đồng bộ thể chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đẩy mạnh nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; xây dựng và phát huy văn hóa quyền con người trong toàn xã hội [41]. Việt Nam đã gia nhập hai công ước cơ bản: ICCPR và ICESCR vào năm 1982, đồng thời không ngừng nội luật hóa các quy định này qua hệ thống pháp luật, như Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và nhiều văn bản khác [42]. Việc bổ sung nhiệm vụ này sẽ tạo cơ sở pháp lý - chính trị cao nhất để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi, giáo dục ý thức quyền con người cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời xây dựng văn hóa quyền con người - nơi mọi người dân không chỉ nhận thức mà còn chủ động thực hành và bảo vệ quyền của mình và tôn trọng quyền của người khác [43].

Thứ ba, trong phần đột phá chiến lược về nguồn nhân lực - một trong ba đột phá chiến lược được kế thừa và phát triển từ Đại hội XIII [44] - đề xuất nhấn mạnh rõ hơn: Phát triển con người toàn diện, lấy bảo vệ và thúc đẩy quyền con người làm nền tảng then chốt để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khơi dậy khát vọng phát triển và sức sáng tạo của nhân dân [45]. Đột phá này cần gắn chặt với việc xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nhân tài, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đồng thời ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực then chốt, kết hợp phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam [46].

Những đề xuất trên, nếu được tiếp thu, sẽ góp phần làm cho Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV trở nên hoàn chỉnh hơn, mang tính đột phá lý luận cao hơn, đồng thời tạo động lực mạnh mẽ để thực hiện thắng lợi khát vọng dân tộc phồn vinh, hạnh phúc, đưa Việt Nam vững bước trên con đường XHCN trong kỷ nguyên mới [47].

Kết luận

Qua phân tích lý luận và thực tiễn, việc nâng tầm quyền con người XHCN thành trụ cột nền tảng thứ tư trong mô hình CNXH Việt Nam là bước tiến lý luận quan trọng và tất yếu, làm “sợi chỉ đỏ” tổng hòa các trụ cột kinh tế, pháp quyền, dân chủ, khẳng định rõ nét bản chất nhân văn ưu việt của chế độ. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan từ thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình mà còn góp phần khơi dậy động lực nội sinh mạnh mẽ, củng cố niềm tin của nhân dân, nâng cao vị thế quốc tế, thực hiện thắng lợi khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN vào năm 2045 - con đường mà Đảng và Nhân dân ta kiên định lựa chọn.

TS. Đỗ Thị Thơm

Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo

[1], [16], [36] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng.

[2], [13], [26], [38] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011).

[3], [11], [29], [44] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. Nxb. CTQGST, Hà Nội.

[4], [15], [41] Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, Điều 14.

[5], [12] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, Tập 10. Nxb. CTQG, Hà Nội, tr. 567.

[6] Liên Hợp Quốc (1948). Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền; Công ước Quốc tế về Quyền dân sự và chính trị (1966); Công ước Quốc tế về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966).

[7], [23], [25],  Tường Duy Kiên (2025). “Phát huy giá trị quyền con người XHCN - trụ cột nền tảng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới”. Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, ngày 14/12/2025.

[8] Nguyễn Xuân Thắng (2024). Phát biểu khai mạc Hội thảo khoa học quốc gia “Con người, quyền con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển đất nước”.

[9], [17], [22], [27], [40] Đảng Cộng sản Việt Nam (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.

[10], [30], [39] Tổng Bí thư Tô Lâm (2024). Phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc gia “Con người, quyền con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển đất nước”.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. Nxb. CTQGST, Hà Nội, tr. 173.

[18] Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013.

[19] Liên Hợp Quốc (1966). Công ước Quốc tế về Quyền dân sự và Chính trị; Công ước Quốc tế về Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa.

[20] United Nations Development Programme (2025). Human Development Report 2025.

[21], [34], [47] World Happiness Report 2025, United Nations Sustainable Development Solutions Network.

[24] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng.

[28] Nghị quyết số 27-NQ/TW, mục I.3.

[31] United Nations Development Programme (2025). Human Development Report 2025: A matter of choice: people and possibilities in the age of Artificial Intelligence (AI).

[32] Bộ Ngoại giao (2023 - 2025). Các báo cáo về hội nhập quốc tế và nhân quyền tại Liên Hợp Quốc.

[33] United Nations Development Programme (2025). Human Development Report 2025.

[35] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, phần Tầm nhìn đến năm 2045.

[42] Bộ Ngoại giao Việt Nam (2023). Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước ICCPR và ICESCR.

[43] United Nations Human Rights Council (2024). Universal Periodic Review - Vietnam.

[45] United Nations Development Programme (2025). Human Development Report 2025.

[46] Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực.

[47] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, phần Kết luận.