Từ khi thành lập đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Tuy nhiên, các thế lực thù địch,̀ phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người nhằm chống phá ổn định chính trị của đất nước và phủ nhận những ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, lợi dụng vấn đề quyền con người để cản trở công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

Ảnh minh họa. Nguồn: doanthanhnien.vn
1. Đặt vấn đề
Quyền của con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, phản ánh quá trình nhân loại đấu tranh tự giải phóng mình khỏi tình trạng nô dịch, bóc lột và phụ thuộc, vươn tới cuộc sống xứng đáng với danh dự và phẩm giá con người. Tuy nhiên, ngày nay, quyền con người cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng, xuyên tạc nhằm âm mưu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam lựa chọn và xây dựng. Nhằm thực hiện âm mưu này, chúng tìm cách khoét sâu những hạn chế, khó khăn trong công tác quản lý xã hội nhằm cường điệu hóa, tuyệt đối hóa những giá trị tư sản, chúng rao giảng rằng quyền con người là giá trị riêng có của chủ nghĩa tư bản, phủ nhận những thành tựu trong bảo đảm quyền con người của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong nhiều năm qua. Trước tình hình này, trong Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, pháp chế...”, quyền con người là mục tiêu và là động lực phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyền con người là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa
Nói đến quyền con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa, không thể không nói đến quan niệm “con người” trong quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo đó, con người hay quyền con người không thể được xem xét trong trạng thái biệt lập, cố định mà phải đặt trong quá trình phát triển, trong mối quan hệ với nhau và với xã hội như C.Mác đã nói, “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”1. Mặc dù chỉ ra nguồn gốc tự nhiên của con người: “giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người… thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại”, C.Mác cũng cho rằng, hoạt động sinh sống của con người là hoạt động sinh sống có ý thức, thông qua lao động, con người làm biến đổi bản chất tự nhiên vốn có và tạo ra bản chất xã hội của chính mình. Khẳng định bản chất xã hội của con người, C. Mác còn đi đến quan niệm rằng, giải phóng cá nhân tạo ra động lực cho sự giải phóng xã hội và ngược lại, giải phóng xã hội là điều kiện thiết yếu cho sự giải phóng cá nhân; con người tự giải phóng mình và đồng thời giải phóng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội2. Như vậy, đích đến cuối cùng là con người được giải phóng và được tự do phát triển toàn diện. Đây cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN mà giai cấp vô sản có sứ mệnh phải xây dựng.
Thật vậy, chế độ xã hội chủ nghĩa, theo quan điểm Mác-Lênin, là một bước đệm của sự tự do hoàn toàn của loài người. Bởi trong chế độ đó, mặc dù còn tồn tại Nhà nước với tư cách là một sản phẩm của giai cấp thống trị nhưng nhà nước này có nhiều điểm khác biệt cơ bản với nhà nước cũ, cụ thể:
Thứ nhất, nhà nước XHCN đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp thống trị lúc này, là giai cấp vô sản hay còn gọi là giai cấp công nhân. Tuy nhiên, quyền và lợi ích của giai cấp này lại thống nhất với đông đảo quần chúng và nhân dân lao động, sứ mệnh của giai cấp này là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu.
Thứ hai, nhà nước XHCN là nhà nước nửa nhà nước, nhà nước không còn nguyên nghĩa. Nếu như các nhà nước khác có mục đích duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị, duy trì sự tồn tại của mình, thì nhà nước trong chế độ xã hội chủ nghĩa - với tư cách là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản - lại tồn tại để chuẩn bị mọi tiền đề cho sự tiêu vong của mình, từ đó giải phóng hoàn toàn con người khỏi mọi sự thống trị.
Thứ ba, trong Nhà nước XHCN, các cơ sở về kinh tế - văn hóa - xã hội cũng như trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở mức cao, đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo phát̉ triển các quyền con người ở mức tối đa nhất.
3. Quyền con người là mục tiêu và động lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ở Việt Nam, trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xương máu để giành lấy những quyền cơ bản của con người: được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành và nhân phẩm được tôn trọng. Nói cách khác, quyền con người là những giá trị đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời, hun đúc nên tình yêu quê hương đất nước, cũng như ảnh hưởng đến tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam. Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, trong Chương trình hành động của Việt Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra mục tiêu: “Sau khi đánh đổ được bọn đế quốc phát xít Nhật, Pháp, sẽ lập nên Chính phủ cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo tinh thần dân chủ”3, Chính phủ sẽ thi hành nhiều chính sách hướng đến quyền con người như: bảo đảm quyền bầu cử, quyền bình đẳng giới, quyền học tập, các quyền về kinh tế, văn hóa, lao động, quyền về an sinh xã hội,... Ngày 02/9/1945, trước hàng triệu quốc dân đồng bào Việt Nam và toàn thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo đó, Nhà nước của chúng ta là nhà nước sinh ra để giải phóng nhân dân, giải phóng dân tộc, chiến đấu và liên tục phấn đấu để mang lại những quyền, những giá trị nhân bản nhất cho con người, đó chính là tự do, là độc lập, là bình đẳng, là sung sướng, là hạnh phúc. Nhà nước Việt Nam là một nhà nước được sinh ra vì con người, là Nhà nước của nhân dân, vì nhân dân.
Từ Đại hội VI của Đảng, xuất phát từ cơ sở tư tưởng “lấy dân làm gốc”, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đánh giá, nhìn nhận tình hình kinh tế - xã hội, đặc biệt trong đảm bảo quyền của nhân dân: “đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng”4 và thẳng thắn thừa nhận những hạn chế này là do những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Có thể thấy, chính vì bản chất là Nhà nước vì nhân dân lấy quyền và lợi ích của nhân dân là động lực, là mục tiêu nên Đảng và Nhà nước Việt Nam mới dũng cảm nhận những khuyết điểm này, để từ đó tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, đáp ứng ngày càng nhiều những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân.
Thứ nhất, để đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải được thực hiện dựa trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật. Hay nói cách khác, Hiến pháp, pháp luật giữ vị trí tối thượng. Dưới góc độ quyền con người, muốn bảo vệ quyền con người trước sự xâm phạm của mọi chủ thể trong xã hội, kể cả từ phía nhà nước thì cần có một văn bản pháp lý có hiệu lực cao để ghi nhận các quyền này. Như vậy, ngay từ đầu, Hiến pháp đã là văn bản quan trọng ghi nhận quyền con người, quyền công dân. Nhờ sự ghi nhận này mà quyền con người, quyền công dân được thừa nhận, được tôn trọng và được bảo đảm. Bởi lẽ việc ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp, pháp luật không chỉ là sự thừa nhận từ phía Nhà nước về những quyền ấy mà còn là sự khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc hiện thực hóa những quyền này. Điều đó có nghĩa là, khi một nhà nước ghi nhận các quyền cho công dân của mình và cho các cá nhân sống trong lãnh thổ quốc gia thì đồng thời cũng xác lập nghĩa vụ của nhà nước trong việc xây dựng cơ chế để đảm bảo những quyền đó được thực thi. Như vậy, việc khẳng định tính thượng tôn pháp luật trong xã hội chính là một trong những biện pháp bảo đảm quyền con người của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ hai, trên thực tế, muốn đảm bảo quyền con người thì việc hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước là rất quan trọng. Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền con người nhưng nhà nước cũng là một trong những chủ thể có nguy cơ cao vi phạm quyền con người. Bởi lẽ, so với các chủ thể khác trong xã hội, nhà nước có nhiều ưu thế hơn đó là quyền lực công, có bộ máy cưỡng chế chuyên biệt, các điều kiện vật chất và nhân lực để thực thi ý chí của mình. Vì vậy, bảo vệ quyền con người trước hết và hơn bao giờ hết phải có sự ngăn ngừa từ phía nhà nước, mà cụ thể ở đây là thông qua cách thức tổ chức quyền lực nhà nước. Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, bởi quyền lực này xuất phát từ Nhân dân, là của Nhân dân một cách toàn vẹn, tuyệt đối. Tuy nhiên, để phục vụ Nhân dân một cách tốt hơn, cần phân định rõ trách nhiệm, bên cạnh đó quyền lực nhà nước phải được phân công và phối hợp thực hiện một cách nhịp nhàng, đồng thời, trong quá trình thực hiện các quyền, phải có sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước để tránh quyền lực bị sử dụng sai mục đích.
Thứ ba, muốn xây dựng Nhà nước đảm bảo quyền con người, cần có sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền cũng có bản chất hướng về quyền và lợi ích chính đáng của người dân, là đại diện cho ý chí, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, hay nói cách khác, hướng tới sự tự do hoàn toàn, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Và thực tế cũng như lịch sử đã chứng minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng giải phóng Nhân dân ta, dân tộc ta khỏi ách nô lệ, lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền và tiến hành xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Chính vì vậy, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội, ổn định chính trị cũng chính là lựa chọn sáng suốt để đảm bảo quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam.
Có thể thấy, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội; tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội đều là những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hay nói cách khác, chính những yêu cầu đảm bảo quyền con người đã trở thành động lực để Đảng và Nhà nước ta xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiến tới chủ nghĩa cộng sản.
Không chỉ là động lực, những giá trị về quyền con người cũng là mục tiêu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Nhà nước ta luôn hướng đến bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, và khi xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mục tiêu này luôn được kế thừa và phát triển trong suốt quá trình phát triển của đất nước
Với quan điểm quyền con người là bản chất của chế độ XHCN, là động lực và là mục tiêu phát triển của Nhà nước pháp quyền, trên thực tế, quyền con người ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền con người luôn được xác định là trung tâm của sự phát triển. Có thể thấy, từ Đại hội VI của Đảng, nhận thức về vị trí, vai trò của con người cũng ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn khi xác định con người là trung tâm, là đối tượng, mục tiêu và động lực của quá trình phát triển và quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Điều này tiếp tục được Đảng tái khẳng định trong Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư khóa VII: Quyền con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Đại hội X của Đảng tiếp tục nêu rõ “dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”5, đồng thời nhấn mạnh “xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân”6. Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung, phát triển nhiều quan điểm lý luận mới về phát triển con người tại Đại hội XII và cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp, định hướng cụ thể trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn phát triển đất nước trên cơ sở “thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013... tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”7. Ban Bí thư khóa XII đã ban hành Thông báo Kết luận tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW của Ban Bí thư khóa X về công tác nhân quyền trong tình hình mới thể hiện tính nhất quán quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong thực hiện quyền con người, xác định con người là trung tâm của sự phát triển. Trên cơ sở kế thừa quan điểm về quyền con người tại các kỳ đại hội trước, vừa qua, tại Văn kiện Đại hội XIII và Nghị quyết 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, Đảng ta đã khẳng định: “Mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân”8.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã cụ thể hóa về các vấn đề liên quan đến quyền con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam thông qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992. Nổi bật, Hiến pháp năm 2013 được coi như một bản Hiến pháp của quyền con người khi đã hoàn thiện nhiều nội dung mới về quyền con người và quyền công dân, thể hiện bước tiến lớn về quyền con người ở Việt Nam, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Qua đó minh chứng rằng, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ Nhà nước ta.
Từ thời kỳ đổi mới đến nay, quyền con người ở Việt Nam ngày càng được bảo đảm tốt hơn và đạt được nhiều thành tựu không thể phủ nhận. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, tạo hành lang pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt quyền con người trên các mặt. Trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, Nhà nước luôn tạo điều kiện để công dân tham gia đóng góp ý kiến, kiến nghị, xây dựng chính sách, pháp luật và kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Đồng thời, nhà nước cũng bảo đảm công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.
Là một trong những quốc gia cam kết mạnh mẽ trong thực hiện phát triển bền vững, Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao về các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân, mức độ tăng trưởng kinh tế ngày càng gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Theo Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV, tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm bình quân khoảng 1-1,5%/năm; thu nhập bình quân hộ nghèo năm 2020 tăng 2,3 lần so với năm 2015, đời sống của hộ nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội từng bước được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng tích cực, năm 2023 đạt hơn 100 triệu đồng (tương đương hơn 4.000 USD), tăng 25% so với năm 20199.
Việt Nam cũng ban hành những Chiến lược, chính sách mới tập trung vào an sinh xã hội và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, cụ thể như Quyết định số 1942/QĐ-TTg ngày 18/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình nâng cao chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật và các đối tượng cần trợ giúp xã hội giai đoạn 2021-2030 trong đó có các nội dung hỗ trợ về cơ hội tiếp cận điện năng với giá thành hợp lý, thúc đẩy tạo việc làm xanh, bền vững, thực hiện các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội.
Đặc biệt, để đảm bảo quyền con người trên thực tế, Việt Nam chú trọng tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người. Trong giai đoạn năm 2021-2022, đã có gần 500 lượt nhà giáo, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tập huấn về ý nghĩa, tầm quan trọng của quyền con người nói chung và quyền con người trong giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Đồng thời, Việt Nam đã chú trọng công tác phổ biến, thông tin về quyền con người với nhiều hình thức đa dạng phong phú nhằm nâng cao nhận thức của xã hội. Thông qua hệ thống internet, truyền thông, báo chí rộng khắp, Việt Nam không chỉ đảm bảo quyền tự do ngôn luận mà còn phát triển hơn nữa quyền tiếp cận thông tin của người dân, giám sát thực thi chính sách, pháp luật về quyền con người. Theo Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV, tính đến tháng 9/2023, Việt Nam có hơn 78 triệu người sử dụng internet (xếp thứ 13 thế giới về số lượng người dùng; tốc độ truy cập internet băng thông rộng di động xếp thứ 45 thế giới với mạng lưới viễn thông phủ sóng 99,73% số thôn trên toàn quốc; hệ thống cáp quang đã triển khai tới 100% xã, phường, thị trấn, 91% thôn bản, 100% trường học và 78,3% số hộ gia đình. Việt Nam có 06 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 798 cơ quan báo chí (bao gồm 127 báo và 671 tạp chí); 72 cơ quan hoạt động phát thanh, truyền hình; 78 kênh phát thanh trong nước, 194 kênh truyền hình trong nước, 45 kênh truyền hình nước ngoài; có 9.959 đài truyền thanh cấp xã trên 10.500 xã, phường, thị trấn (trong đó có 1.799 đài truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông trên hạ tầng internet).
Cùng với việc phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ. Theo Báo cáo “phát triển con người (HDR) do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thực hiện, từ năm 1990-2023, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng 53,5%, cho thấy một bước tiến ấn tượng Cụ thể, năm 2023 HDI của Việt Nam đạt 0,766 - thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao (đứng thứ 93 trên tổng số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ)10.
Kết luận
Quyền con người mang tính phổ biến. Trong khi đó, việc thực hiện quyền con người lại mang bản chất giai cấp. Có thể thấy, vì con người, vì nhân dân, quyền con người là bản chất của Nhà nước Việt Nam, của chế độ chính trị tại Việt Nam. Việt Nam đang thực thi quyền con người một cách thực chất và góp phần định hình nhận thức mới cho nhân loại. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Đảng, Nhà nước ta vẫn luôn nỗ lực để bảo đảm quyền con người theo chuẩn mực quốc tế. Những thành tựu trên lĩnh vực này của Việt Nam là rất rõ ràng, khách quan, không thể phủ nhận. Ngoài việc tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội, nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước, mỗi cá nhân cũng phải có nghĩa vụ đối với xã hội, nỗ lực đóng góp để đất nước ngày càng giàu mạnh hơn, đó sẽ là cơ sở để Nhà nước tiếp tục chăm lo tốt hơn cho nhu cầu, quyền lợi chính đáng của mỗi cá nhân.
ThS. Nguyễn Việt Hà
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 46 (6/2025)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.11.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.42, tr.135.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2000, t7, tr.149
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.212.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thât, H.2018, t.65, tr.221.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thât, H.2018, t.65, tr.222.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.178.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.20921, t.I, tr. 216.
(9) Bộ Ngoại giao, Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy QCN ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV.
(10) UNDP, Báo cáo phát triển con người (HDR) năm 2025.