Quyền con người là một trong những vấn đề quan trọng được đề cập nhất quán và xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới. Bài viết tập trung nghiên cứu, làm rõ quá trình phát triển quan điểm của Đảng về quyền con người qua các giai đoạn, nhằm nhấn mạnh từng bước phát triển, gắn với bối cảnh trong nước và quốc tế. Đồng thời, chỉ ra những thành tựu và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trải qua 40 năm đổi mới (1986-2026), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu

về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực quyền con người. Nguồn: nhandan.vn

Quyền con người (QCN) là giá trị phổ quát, là thước đo, sự tiến bộ của nhân loại. Trải qua 40 năm đổi mới (1986-2026), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực quyền con người. Việc nghiên cứu quá trình phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về QCN sau 40 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo, tính đúng đắn và nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

1. Các giai đoạn phát triển quan điểm của Đảng về quyền con người trong 40 năm đổi mới

a) Giai đoạn hình thành và xác lập quan điểm chỉ đạo toàn diện của Đảng về quyền con người (1986-2001)

Đây là giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, nền kinh tế Việt Nam còn yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Cùng với việc đặt ra mục tiêu sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy để giải quyết khó khăn trước mắt, có điều kiện phát triển, Văn kiện Đại hội VI cũng “thể hiện bước đầu sự đổi mới tư duy của Đảng” trong lãnh đạo, chỉ đạo trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, có đổi mới tư duy tiếp cận vấn đề con người, như: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng”1; “phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người là mục đích cao nhất của mọi hoạt động”2. Đồng thời, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, văn kiện Đại hội VI đã chú trọng đến việc khơi dậy nguồn lực con người, “cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế. Những quy định có tính nguyên tắc phải trở thành pháp luật để mọi người yên tâm, mạnh dạn kinh doanh”3.

Quan điểm về đổi mới tư duy trong tiếp cận vấn đề con người của Đảng trong Văn kiện Đại hội VI đã mang lại những kết quả nhất định, khơi dậy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế, xã hội. Đồng thời, qua đó khẳng định sự đổi mới tư duy của Đảng là đúng đắn, là phù hợp với bản chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN), là cuộc cách mạng “vì con người và giải phóng con người”. Đây cũng được coi là nền tảng quan trọng cho sự phát triển quan điểm của Đảng về QCN trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”, đồng thời, “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”4.

Mặt khác, QCN là vấn đề “đang được dư luận quốc tế quan tâm rộng rãi”, chủ nghĩa đế quốc đã và đang sử dụng vấn đề QCN như một công cụ để phá hoại, can thiệp vào nội bộ các nước XHCN với âm mưu “diễn biến hòa bình”. Vì vậy, Đảng ta xác định cần  “nhận thức rõ, có quan điểm chủ trương đúng đắn về vấn đề quyền con người”5, qua đó xây dựng được một hệ thống quan điểm chỉ đạo thống nhất, toàn diện vấn đề nhân quyền ở Việt Nam với những điểm nổi bật sau: 1) QCN là giá trị chung của nhân loại; 2) Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm QCN mang tính giai cấp sâu sắc; 3) QCN là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; 4) QCN gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia: 5) QCN gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia; 6) QCN được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật; 7) Quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân6. Đây là những quan điểm cơ bản làm nền tảng cho quá trình phát triển quan điểm của Đảng về QCN.

Hiện thực hoá quan điểm của Đảng “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các QCD và QCN, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”7. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Khi đó, “Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước”8. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về QCN. Các điều kiện bảo đảm QCN được hiện thực hóa bằng các quy định về trách nhiệm của Nhà nước; “kinh tế tăng trưởng khá. Văn hóa, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện”9. Bộ máy nhà nước được cải cách theo hướng tinh giản, rõ ràng trách nhiệm trước nhân dân, hiệu lực, hiệu quả hơn.

b) Giai đoạn hoàn thiện các điều kiện bảo đảm quyền con người và tăng cường lãnh đạo hội nhập quốc tế về quyền con người (2001 -2010)

Sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tác động mạnh mẽ đến năng lực thực hiện quyền làm chủ và các QCN của cá nhân. Thực trạng này đặt ra nhiều thách thức với bộ máy nhà nước còn mang nặng dấu ấn của nền kinh tế thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp nói riêng và cả hệ thống chính trị nói chung. Vì vậy, các Nghị quyết Trung ương và Văn kiện Đại hội IX, X chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành “cải cách thể chế, phương thức hoạt động của Nhà nước”, tập trung giải quyết các vấn đề về cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan dân cử, cải cách tư pháp, hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thể chế hóa Văn kiện Đại hội IX, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Trên cơ sở đó, nhiều luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được ban hành mới. Đồng thời, Trung ương đã ban hành Nghị quyết 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng pháp luật đến năm 2010 và định hướng đến 2020, xác định “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân” là một trong 6 định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; Nghị quyết 49 -NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, với mục tiêu xây dựng “nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc”. Đồng thời, Đảng chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, nhằm bảo vệ và thúc đẩy tự do của con người về dân sự, chính trị, khắc phục hạn chế “hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn hình thức và nặng về hành chính, không sát dân”10. Các quyền dân chủ trực tiếp của công dân từng bước được chú trọng hoàn thiện thể chế.

Những chủ trương này là minh chứng sắc nét cho sự chủ động, tích cực giải quyết các vấn đề về nhân quyền: “chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia”11; “chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”12. Đối thoại về nhân quyền trong các tổ chức quốc tế, đối thoại với các tổ chức, cá nhân, chính phủ nước ngoài, Việt Nam đã thể hiện tinh thần, sẵn sàng hội nhập, tiếp cận QCN theo chuẩn mực chung của thế giới. Việt Nam không dừng lại ở những điều ước quốc tế về QCN đã ký kết hoặc tham gia, mà “tiếp tục xem xét kỹ các khía cạnh chính trị, kinh tế, pháp luật, đối ngoại để quyết định tham gia các điều ước quốc tế về QCN và tổ chức thực hiện tốt các điều ước đó ở Việt Nam”13. Thực hiện quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về QCN, tình hình nhân quyền trong giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: “Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng, nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi trọng”14. Việt Nam đã tham gia cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Liên Hợp Quốc từ năm 2009. Thành tựu về QCN ở Việt Nam đã được Hội đồng nhân quyền công nhận qua các báo cáo quốc gia trong các chu kỳ UPR.

c) Giai đoạn bước phát triển mới trong nhận thức về quyền con người và hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người (2011 đến nay)

Sau 25 năm đổi mới, phát huy thành tựu đã đạt được về QCN, Đảng xác định: “quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về QCN mà Việt Nam ký kết”15. Nhận thức của Đảng về QCN có bước phát triển mới quan trọng, cần được hiện thực hóa trong đời sống xã hội, nhằm tạo ra những động lực mới cho sự phát triển và thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng XHCN. Đại hội XI chủ trương: khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới16. Theo đó, QCN là giá trị khách quan, gắn liền với mỗi cá nhân, mà Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm, “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”17. Hiến pháp là văn bản ghi nhận mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, nên QCN được ghi nhận trong chương 2, sau chương về thể chế chính trị. Khi đó, quyền lực nhà nước là do ủy quyền và nhà nước có trách nhiệm “chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân”, Vì vậy, cần nghiên cứu “xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”18. QCN chính là giới hạn nhằm hạn chế sự lạm quyền của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”19.

Vấn đề QCN tiếp tục được nhận thức và thực hiện với tư duy lý luận và tầm nhìn chiến lược mới20. Đảng chủ trương phát huy toàn diện các điều kiện, nguồn lực cho sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN, mà trong đó, con người chính là chủ thể của sự phát triển, “gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật”21. Đồng thời, tạo động lực để công dân thực hiện tốt nghĩa vụ của mình thông qua việc “phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tự hào dân tộc, tính cộng đồng và khơi dậy khát vọng vươn lên”22.

Trên cơ sở các nguyên tắc, quy định về QCN trong Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản luật được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết 718/NQ-UBTVQH13 ngày 01/02/2014, về kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Trong đó, Quốc hội phải ban hành 15 bộ luật, luật về QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (có 12/15 bộ luật, luật là ban hành mới); 26 bộ luật, luật về tổ chức bộ máy nhà nước và các thiết chế trong hệ thống chính trị; 38 bộ luật, luật về các lĩnh vực của đời sống xã hội, 10 luật về bảo vệ Tổ quốc. Đảng luôn quan tâm chỉ đạo việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ và thúc đẩy QCN, như “tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân”23. Đồng thời, hoàn thiện “cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”; “tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp”24 và thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, “đột phá chiến lược” được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và là yêu cầu đặt ra trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.

Đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đảng đã ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết 66-NQ/TW) được xác định là một trong “bộ tứ trụ cột” nghị quyết đưa đất nước vào kỷ nguyên mới, đã xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, đưa thể chế pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh; dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả QCN, quyền công dân (QCD); bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được25.

2. Thực tiễn bảo đảm quyền con người theo quan điểm, chủ trương của Đảng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhận thức của Đảng về QCN đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Theo đó, nhận thức về QCN ở Việt Nam đã tiếp cận với nhận thức chung của thế giới. Việt Nam đã là thành viên của 7/9 điều ước quốc tế quan trọng về nhân quyền; tham gia 25 điều ước quốc tế của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); là thành viên của 7/8 điều ước quốc tế quan trọng của ILO. Việt Nam đã có 3 nhiệm kỳ được cộng đồng quốc tế tín nhiệm bầu chọn là thành viên của Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc; đã tham gia nghiêm túc và trách nhiệm ngay từ đầu cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) về nhân quyền của Liên hợp quốc (năm 2009). Kết thúc Chu kỳ III, Việt Nam báo cáo đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần 239 trong tổng số 241 (99,2%) các khuyến nghị Việt Nam đã chấp thuận. Ngày 27/9/2024, thông qua kết quả rà soát định kỳ Chu kỳ IV, Việt Nam thông báo quyết định chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị các nước đưa ra, đạt tỷ lệ 84,7% cao nhất trong bốn chu kỳ, thể hiện sự cầu thị của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy QCN. Việt Nam đã ban hành mới và sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật về QCN, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm QCN, hạn chế sự lạm quyền, không tôn trọng QCN,... của cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ.

Tính đến năm 2024, quy mô GDP của Việt Nam đạt khoảng 11,5 triệu tỷ đồng (tương đương 476,3 tỷ USD), cao gấp hàng chục lần so với thời điểm bắt đầu đổi mới; GDP bình quân đầu người tăng lên khoảng 4.700 USD, tiếp tục củng cố vị thế quốc gia thu nhập trung bình26. Các quyền tự do báo chí, tự do Internet, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội...cũng được thực thi nghiêm túc27.

Việc đặt con người là trung tâm của quá trình phát triển, lấy quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân là mục đích cao nhất của mọi hoạt động kinh tế-xã hội, tiến bộ về nhân quyền mà Việt Nam đạt được mang tính toàn diện, bao trùm, bền vững trên hầu hết các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng: 17,85% đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số đại diện cho 32 dân tộc thiểu số khác nhau; tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ là 30,24%, vượt chỉ tiêu (30%); tính đến cuối năm 2022, có 85% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng28.

3. Đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Bên cạnh những kết quả đạt được, Đảng thẳng thắn chỉ ra những bất cập trong việc bảo đảm QCN, QCD trong thực tiễn như “nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội. Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới. Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ”29. Do đó, trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình trong nước và thế giới, bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, việc bảo đảm QCN sẽ mang lại động lực to lớn cho sự phát triển của cá nhân và xã hội. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện tốt các vấn đề: kiên định mục tiêu và đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tiếp tục làm rõ các vấn đề lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; làm tốt công tác truyền thông về QCN, để nâng cao nhận thức và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong bảo vệ, thúc đẩy QCN; tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, lấy con người là trung tâm của chiến lược phát triển, tạo nguồn lực dồi dào, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Bảo vệ và thúc đẩy QCN hiệu quả hơn nữa trong thực tiễn; trong quan hệ đối ngoại, cần đẩy mạnh truyền thông, đối thoại về QCN; tiếp tục tham gia sâu rộng hơn nữa vào các diễn đàn, các tổ chức quốc tế về nhân quyền, khẳng định uy tín của Việt Nam về nhân quyền, chống lại quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng vấn đề nhân quyền can thiệp vào công việc nội bộ. Muốn vậy, cần xác định một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề QCN, QCD.  “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta”30. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong nhiều nhiệm kỳ đại hội. Nhiều nghị quyết chuyên đề đã được ban hành và tổ chức thực hiện. Tập trung vào các vấn đề: siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, trong quản lý đảng viên và các tổ chức Đảng; tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Đảng đồng bộ với các thiết chế trong hệ thống chính trị; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ,... Công tác xây dựng Đảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đường lối lãnh đạo của Đảng về hoàn thiện cơ chế bảo đảm QCN ở Việt Nam ngày càng phù hợp, hiệu quả, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân với tư cách là chủ thể chính có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ QCN.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới phải là nhà nước “thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện QCN, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia-dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”; “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các QCN, QCD; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người”31. Nhưng chính Nhà nước lại là chủ thể có nguy cơ xâm phạm QCN lớn nhất trong thực tiễn, đòi hỏi quyền lực của Nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ. Văn kiện Đại hội XI đã bổ sung yêu cầu về “kiểm soát” trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Quan điểm này đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013, với nhiều thay đổi trong các quy định về vị trí, vai trò, chức năng của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, Đảng chủ trương: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”32. Đồng thời, “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong đó có Chiến lược về cải cách tư pháp”33. Sau hơn 20 năm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, lần đầu tiên, Đảng ta có đánh giá toàn diện về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Từ đó, xác định những nội dung trọng tâm, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn mới.

Ba là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội, truyền thông, báo trí trong cơ chế bảo đảm QCN.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên với vai trò là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, cần “Đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội theo phương châm hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân”34. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phải thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình để cùng với Đảng, Nhà nước xây dựng và thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Đồng thời, thực hiện “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”35.

Tóm lại, quá trình phát triển quan điểm của Đảng về QCN qua 40 năm đổi mới, là một quá trình phát triển liên tục, nhất quán, phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế. Những thành tựu QCN về lý luận và thực tiễn đã mang lại những thay đổi lớn về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố lòng tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng; khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời, làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề nhân quyền can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước ta.

TS. Trần Thị Thanh Mai

Học viện Chính trị khu vực I

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 49 (10/2025)

---

Tài liệu trích dẫn
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, t.47, tr.363.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thức VI, Nxb CTQG, tr.86.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện tòan tập, Tập 47, tr.395.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sdd, Tập 51, tr.154-190.
(5) Ban Chấp hành Trung ương(1992) Chỉ thị 12-CT/TW ngày 12/7/1992 về vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta.
(6) Ban Chấp hành Trung ương (1992), Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sdd, Tập 51, tr.145.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sdd, Tập 51, tr.149.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thức IX, Nxb CTQG, tr.16 .
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết số 23-NQ/TW về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thức IX, Nxb CTQG, tr.134.
(12) Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB CTQG,  tr.113.
(13) Ban Bí thư (2010), Chỉ thị số 44 về công tác nhân quyền trong tình hình mới.
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, tr.239.
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011).
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), sdd, tr.247.
(17) Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013, Khoản 1, Điều 14.
(18) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), sdd, tr.239.
(19) Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013, Khoản 2, Điều 14 3.
(20) Những điểm mới trong tầm nhìn và chủ đề của Đại hội XIII https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-thieu-van-kien-dang/nhung-diem-moi-trong-tam-nhin-va-chu-de-cua-dai-hoi-XII-3740, truy cập ngày 19/8/2025.
(21) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG-ST, Tập 1, tr.7.1
(22) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), sdd, Tập 1, tr.262.
(23) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, tr.169.
(24) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), sdd, tập 1, tr.203
(25) Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
(26) Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2024-119250106104456764.htm?utm_source=chatgpt.com , truy cập ngày 19/8/2025.
(27) Việt Nam bảo vệ báo cáo quốc gia thực thi cơ chế UPR Chu kỳ IV - vững tin trên con đường đã chọn https://ttdn.vn/nghien-cuu-trao-doi/quyen-con-nguoi/viet-nam-bao-ve-bao-cao-quoc-gia-thuc-thi-co-che-upr-chu-ky-iv-vung-tin-tren-con-duong-da-chon-104481, truy cập ngày 19/8/2025.
(28) Chú trọng quyền của người khuyết tật, https://nhandan.vn/chu-trong-quyen-cua-nguoi-khuyet-tat-post835666.html, truy cập ngày 19/8/2025.
(29) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), sđ, tr.239.
(30) Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư, BCH Trung ương Đảng khóa XIII https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xiii/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-be-mac-hoi-nghi-lan-thu-tu-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-3759, truy cập ngày 19/8/2025.
(31) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 .
(32) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), sdd, tr.39-40.
(33) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), sdd, Tập 1, tr.177.
(34) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), sdd, Tập 1, tr.43.
(35) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), sdd, tập 1, tr.146.