Trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thể hiện sự phát triển sâu sắc về nhận thức lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, với trọng tâm lấy con người làm trung tâm. Bài viết phân tích nội dung Dự thảo từ góc nhìn quyền con người, đánh giá những điểm tiến bộ và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện, đảm bảo quyền con người được bảo vệ toàn diện, phù hợp với Hiến pháp 2013 và các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Ảnh minh họa. Nguồn: tcnnld.vn.

Mở đầu

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, quyền con người luôn là giá trị cốt lõi, được Đảng Cộng sản Việt Nam coi là mục tiêu và động lực của sự nghiệp đổi mới. Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) (bổ sung, phát triển năm 2011) đến các nghị quyết gần đây, Đảng ta đã khẳng định rằng: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (sau đây gọi tắt là Dự thảo), được công bố ngày 15/10/2025, là văn kiện quan trọng, tổng kết 40 năm đổi mới và định hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Văn kiện này không chỉ phản ánh sự phát triển lý luận về CNXH khoa học mà còn thể hiện cam kết bảo vệ quyền con người như một trụ cột của Nhà nước pháp quyền XHCN.

Từ góc nhìn chuyên ngành pháp luật về quyền con người, Dự thảo đã tiếp cận vấn đề theo hướng toàn diện, gắn kết quyền con người với phát triển kinh tế - xã hội, dân chủ và công bằng xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và những thách thức mới từ chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, bài viết nhằm phân tích nội dung Dự thảo, đánh giá ưu điểm và đề xuất góp ý nhằm hoàn thiện, đảm bảo quyền con người được bảo vệ hiệu quả hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948), Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966) mà Việt Nam là thành viên. Phân tích này dựa trên nguyên tắc khách quan, khoa học, góp phần vào đợt lấy ý kiến nhân dân từ 15/10 đến 15/11/2025, thể hiện tinh thần dân chủ mà Đảng ta luôn đề cao.

1. Phân tích nội dung Dự thảo Báo cáo chính trị về quyền con người

Dự thảo Báo cáo chính trị đã dành nhiều phần quan trọng để đề cập đến quyền con người, coi đây là yếu tố then chốt trong việc xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH”[1]. Góc nhìn nhân quyền được tiếp cận đa chiều, từ quyền phát triển con người đến quyền làm chủ của nhân dân, từ bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương đến xây dựng Nhà nước pháp quyền, phản ánh sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc”.

Thứ nhất, Dự thảo nhấn mạnh quyền con người trong phát triển toàn diện con người và xã hội. Văn kiện khẳng định: “Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển toàn diện con người ngày càng đầy đủ, trọng tâm và thực chất”[2], với các chỉ số cụ thể như Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 14 bậc lên 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao; tuổi thọ trung bình đạt 74,8 năm; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống còn 1,3% năm 2025. Điều này thể hiện quyền phát triển - một quyền cơ bản theo Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người - được thực thi qua các chính sách giảm nghèo bền vững trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”[3], mở rộng trợ giúp xã hội cho hơn 3,5 triệu người, trong đó 55% là người cao tuổi. Dự thảo còn đề xuất “Bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng; ưu tiên các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế và đối tượng trong khu vực phi chính thức”[4], gắn kết quyền con người với an sinh xã hội, an ninh con người, phù hợp với Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966).

Thứ hai, Dự thảo khẳng định quyền công dân qua việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và quyền làm chủ của nhân dân. Văn kiện nêu rõ: “Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”[5], với dân chủ cơ sở được đẩy mạnh, chất lượng giám sát, phản biện xã hội nâng cao. Dự thảo nhấn mạnh “Thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; chống các biểu hiện dân chủ hình thức”[6], và “Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân”[7]. Điều này phản ánh góc nhìn nhân quyền dân sự - chính trị, nơi nhân dân là chủ thể, với cơ chế “Có cơ chế phù hợp, thuận lợi và tin cậy để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước”[8]. Đồng thời, Dự thảo yêu cầu “Chú trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến, kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân”[9], và “Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân, lợi dụng dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước”[10], đảm bảo quyền con người không bị lạm dụng.

Thứ ba, Dự thảo tiếp cận quyền con người qua lăng kính công bằng xã hội và bình đẳng. Văn kiện khẳng định: “Bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển”[11], với các chính sách “Thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...; chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi và trẻ em, nhất là trẻ em gái”[12]. Dự thảo còn đề xuất “Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, chế độ dinh dưỡng cho người dân, nhất là các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương”([13]), và “Bảo đảm, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân”[14]. Những nội dung này thể hiện sự cam kết với nguyên tắc không phân biệt đối xử theo Công ước ICCPR, đồng thời chỉ ra hạn chế như “Sự phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội có xu hướng gia tăng”[15], đòi hỏi giải pháp khắc phục.

Thứ tư, Dự thảo nhấn mạnh quyền con người trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Văn kiện nêu: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”[16], với hệ thống pháp luật được hoàn thiện “đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định”[17]. Dự thảo chỉ rõ hạn chế: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vẫn còn có mặt hạn chế. Sự phân công, phối hợp giữa các các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có mặt chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ”([18]), và “Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tiễn; tổ chức thi hành pháp luật còn chưa tốt”([19]). Điều này gắn kết quyền con người với cải cách tư pháp, đảm bảo quyền tiếp cận công lý.

2. Đánh giá ưu điểm của Dự thảo từ góc nhìn quyền con người

Dự thảo Báo cáo chính trị đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc tích hợp quyền con người vào đường lối phát triển đất nước. Ưu điểm đầu tiên là tính toàn diện, lấy con người làm trung tâm, với các chỉ số đo lường cụ thể như HDI, tuổi thọ, giảm nghèo, phản ánh sự chuyển biến từ lý luận sang thực tiễn. Điều này phù hợp với quan điểm của Đảng ta về “Quán triệt sâu sắc quan điểm ‘Dân là gốc’, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[20], và “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân”[21].

Ưu điểm thứ hai là sự gắn kết quyền con người với dân chủ và công bằng xã hội, thể hiện qua phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[22], và cam kết bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương. Dự thảo đã kế thừa tinh thần Hiến pháp năm 2013, nơi quyền con người được quy định tại Chương II, và các cam kết quốc tế của Việt Nam, như Báo cáo quốc gia theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

Ưu điểm thứ ba là tính dự báo và thích ứng, nhận diện thách thức như bất bình đẳng xã hội, già hóa dân số, và đề xuất giải pháp như “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, theo vòng đời và bao phủ toàn dân, toàn diện, lấy con người là trung tâm”[23]. Điều này chứng tỏ Dự thảo không chỉ dừng ở tuyên bố mà hướng tới hành động cụ thể, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế về quyền con người.

3. Một số kiến nghị góp ý hoàn thiện Dự thảo từ góc nhìn quyền con người

Dù đã có những tiến bộ đáng kể, Dự thảo vẫn còn một số hạn chế cần bổ sung để đảm bảo quyền con người được bảo vệ toàn diện hơn, phù hợp với bối cảnh mới của kỷ nguyên vươn mình dân tộc. Từ góc nhìn pháp luật về quyền con người, các kiến nghị sau đây nhằm nâng tầm văn kiện, biến nó thành nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc thực thi quyền con người ở Việt Nam, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, pháp quyền thực sự.

Thứ nhất, cần bổ sung mục tiêu cụ thể về bảo vệ quyền con người như một đột phá chiến lược riêng biệt, gắn với tầm nhìn đến năm 2045. Hiện nay, Dự thảo đã nêu mục tiêu tổng quát như “Xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”[24], nhưng chưa có mục tiêu riêng về quyền con người. Do đó, cần bổ sung: Quyền con người phải trở thành trụ cột của Nhà nước pháp quyền XHCN, với mục tiêu đến năm 2030 đạt xếp hạng cao hơn trong các chỉ số quốc tế về quyền con người (như Báo cáo Tự do Thế giới của Freedom House hoặc Chỉ số Dân chủ của Economist Intelligence Unit), và đến năm 2045, Việt Nam trở thành hình mẫu về bảo vệ quyền con người trong khu vực ASEAN. Mục tiêu này không chỉ đồng bộ với kỷ nguyên vươn mình mà còn là điểm tương đồng để quy tụ toàn dân, củng cố niềm tin xã hội. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý để phát huy quyền con người, tránh tình trạng “Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn chồng chéo”[25] dẫn đến vi phạm quyền.

Thứ hai, cần bổ sung nội dung về bảo vệ quyền con người trong môi trường số và chuyển đổi số, coi đây là phương thức mới để thực thi nhân quyền dân sự - chính trị. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, Dự thảo cần nhấn mạnh: “Bảo vệ quyền con người trên không gian mạng, đảm bảo quyền riêng tư, quyền tiếp cận thông tin và chống phân biệt đối xử kỹ thuật số”[26]. Cụ thể, xây dựng cơ chế pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân theo chuẩn GDPR của châu Âu, đồng thời sử dụng nền tảng số để phát huy dân chủ trực tiếp, như hệ thống lấy ý kiến nhân dân qua ứng dụng số. Thực tiễn cho thấy, trong đại dịch COVID-19 hay các sự kiện lớn, không gian mạng đã trở thành nơi thể hiện quyền biểu đạt, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro vi phạm quyền riêng tư. Bổ sung này phù hợp với “Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm”[27], và là yêu cầu sống còn để quyền con người không bị tụt hậu trong thời đại số, góp phần xây dựng “xã hội số, công dân số”.

Thứ ba, cần làm rõ cơ chế giám sát độc lập và trách nhiệm giải trình trong bảo vệ quyền con người, đặc biệt đối với các cơ quan công quyền. Dự thảo đã đề cập “Nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội”[28], nhưng cần bổ sung vai trò của các tổ chức độc lập như Hội Luật gia Việt Nam hoặc các tổ chức nhân quyền quốc tế trong giám sát. Cụ thể, thành lập Ủy ban Quốc gia về Quyền con người trực thuộc Quốc hội, với chức năng điều tra độc lập các vụ vi phạm quyền, đảm bảo “Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân”[29]. Điều này sẽ nâng cao tính minh bạch, phù hợp với khuyến nghị UPR của Việt Nam, và củng cố niềm tin nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Thứ tư, cần tăng cường nội dung về quyền con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường, coi đây là quyền thế hệ mới. Dự thảo nên bổ sung: “Bảo đảm quyền con người trong thích ứng biến đổi khí hậu, đặc biệt quyền sống, quyền sức khỏe của nhóm dễ bị tổn thương như dân tộc thiểu số, phụ nữ và trẻ em”[30]. Cụ thể, xây dựng chính sách hỗ trợ tái định cư và bồi thường cho người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, gắn với “Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia”[31]. Đây là bước tiến bộ, phù hợp với Nghị quyết Liên hợp quốc về quyền con người và môi trường năm 2021, giúp Việt Nam dẫn đầu khu vực trong bảo vệ quyền môi trường.

Các kiến nghị trên không chỉ làm phong phú Dự thảo mà còn khẳng định vị thế của Đảng ta trong việc bảo vệ quyền con người, góp phần xây dựng một Việt Nam cường thịnh, nơi con người thực sự là trung tâm.

Kết luận

Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là văn kiện lịch sử, thể hiện sự phát triển lý luận về quyền con người trong CNXH Việt Nam. Từ phân tích và góp ý trên, có thể thấy Dự thảo đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng cần hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thời đại mới. Việc bảo vệ quyền con người không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là sứ mệnh cách mạng, góp phần thực hiện di huấn của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hy vọng các góp ý này sẽ được tiếp thu, làm phong phú văn kiện, hướng tới một Việt Nam dân chủ, công bằng, nhân văn./.

PGS, TS. Lê Văn Trung

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Lê Hùng

Học viện Chính trị khu vực I


[1] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần III.

[2] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần I.2.

[3] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần I.2.

[4] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần VIII.

[5] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[6] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[7] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[8] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[9] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần I.

[10] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[11] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[12] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần VIII.

[13] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần VIII.

[14] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[15] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần 2.

[16] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần I.

[17] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần I.

[18] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần 2.

[19] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần 2.

[20] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[21] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[22] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[23] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần VIII.

[24] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần III.

[25] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần 2.

[26] Đề xuất bổ sung dựa trên Dự thảo.

[27] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[28] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần I.

[29] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần XII.

[30] Đề xuất bổ sung dựa trên Dự thảo.

[31] Dự thảo Báo cáo chính trị, Phần VIII.