Trong bối cảnh chuyển đổi số, quyền văn hoá và trách nhiệm văn hoá trở thành một chủ đề mang tính thời sự. Bài viết làm rõ về quyền và trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số từ góc độ lý luận và thực tiễn ở Việt Nam. Từ đó khẳng định, trong kỷ nguyên số, việc xác lập rõ ràng và bền vững mối quan hệ giữa quyền và trách nhiệm văn hóa không chỉ là học thuật, mà là vấn đề sống còn đối với việc bảo vệ lợi ích cộng đồng và duy trì bản sắc văn hoá dân tộc trước các tác động toàn cầu hoá và công nghệ hoá.

Ảnh minh họa. Nguồn: lyluanchinhtri.vn
Đặt vấn đề
Kỷ nguyên số (Digital Age), hay thời đại số, là giai đoạn mà công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và kỹ thuật số phát triển vượt bậc, tạo ra một thế giới kết nối toàn cầu dựa trên dữ liệu. Tại Việt Nam, trong gần 30 năm qua (kể từ năm 1997 - năm Việt Nam có internet), internet, kết nối vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang đóng vai trò trung tâm, làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội và kinh tế. Sự phát triển này không chỉ ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp truyền thống mà còn tạo ra các mô hình kinh doanh và tương tác xã hội mới, đòi hỏi sự thích ứng nhanh chóng từ cả chính phủ, doanh nghiệp và người dân. Với lĩnh vực văn hoá, công nghệ số đã làm thay đổi căn bản cách thức con người bảo tồn di sản, sáng tạo, lưu trữ, phân phối và tiếp nhận sản phẩm văn hoá, phát triển công nghiệp văn hoá và mở rộng quyền tiếp cận tri thức. Tuy nhiên, những thách thức mới đối với việc bảo đảm quyền và thực thi trách nhiệm văn hoá cho thấy phải có sự nhìn nhận nghiêm túc, một khung pháp lý và cơ chế quản lý thích hợp về quyền văn hoá và trách nhiệm văn hoá thời đại số.
1. Khái quát về quyền văn hoá và trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số
a) Quyền văn hoá trong kỷ nguyên số
“Văn hóa trong kỷ nguyên số” (Culture in the Digital Era) là tập hợp các giá trị, chuẩn mực, tập quán, hành vi và hình thức sinh hoạt văn hóa được hình thành, phát triển và biến đổi trong bối cảnh công nghệ số thâm nhập sâu rộng vào đời sống xã hội. Văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ bao gồm sự kế thừa và phát triển từ văn hóa truyền thống mà còn biểu hiện sự đổi mới, sáng tạo liên tục dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ số, các hoạt động văn hóa thông qua các công cụ và nền tảng kỹ thuật số như internet, mạng xã hội, ứng dụng di động, trí tuệ nhân tạo. Đây là một hệ sinh thái văn hóa mới, đa chiều, năng động và không ngừng biến đổi theo sự phát triển của công nghệ.
Là một bộ phận của quyền con người, quyền văn hoá được quy định tại Điều 27 Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người năm 1948 (UDHR) và Điều 15 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 (ICESCR), bao gồm các quyền: i) Quyền “tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng”1; ii) Quyền “được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng dụng của nó”2; iii) Quyền sáng tạo và “được bảo hộ các quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào”3. Điều 15 ICESCR cũng quy định rõ về việc các nước tham gia Công ước cam kết tôn trọng quyền tự do đối với nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tạo và phải thực thi nhiều biện pháp cần thiết để bảo tồn, phát triển và phổ biến khoa học và văn hoá, khuyến khích phát triển các mối quan hệ và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học và văn hoá.
Trong kỷ nguyên số, quyền văn hoá là quyền của mỗi cá nhân và cộng đồng trong tiếp cận, sáng tạo, hưởng thụ và phát triển các giá trị văn hoá, được bảo vệ bản sắc văn hoá của mình, được hưởng lợi từ tiến bộ khoa học, công nghệ và các thành quả sáng tạo nghệ thuật, tri thức nhân loại trong môi trường số.
b) Trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số
“Trách nhiệm văn hoá” là một khái niệm thể hiện nghĩa vụ và ý thức của cá nhân, cộng đồng, tổ chức, cũng như Nhà nước trong việc gìn giữ, phát huy và lan toả các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tôn trọng sự đa dạng văn hoá của nhân loại. Không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn di sản hay tuân thủ pháp luật về văn hoá, trách nhiệm văn hoá còn bao gồm hành động chủ động sáng tạo, ứng xử có văn hoá, góp phần xây dựng môi trường sống lành mạnh, nhân văn. Ở cấp độ cá nhân, đó là việc tôn trọng chuẩn mực, hành xử văn minh và hướng thiện. Ở cấp độ cộng đồng và tổ chức, trách nhiệm văn hoá thể hiện qua việc bảo đảm các hoạt động văn hoá mang tính bao dung, tiến bộ, không làm tổn hại đến giá trị chung. Với Nhà nước, trách nhiệm văn hoá là hoạch định chính sách, tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền được tham gia vào đời sống văn hoá. Như vậy, trách nhiệm văn hoá chính là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển bền vững của xã hội, nơi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người thụ hưởng văn hoá.
Trong kỷ nguyên số, “trách nhiệm văn hoá” mang ý nghĩa mới, gắn liền với cách con người ứng xử, sáng tạo và lan toả giá trị văn hoá trong không gian số, là ý thức sử dụng công nghệ một cách nhân văn, là sự chủ động sáng tạo nội dung có giá trị, góp phần quảng bá hình ảnh văn hoá dân tộc ra thế giới. Với Nhà nước và tổ chức, trách nhiệm văn hoá là xây dựng môi trường số lành mạnh, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá để người dân được tiếp cận, tham gia và sáng tạo. Các biểu hiện cơ bản và rõ nét của “trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số” có thể được nhìn nhận trên nhiều cấp độ, từ cá nhân, cộng đồng đến Nhà nước và doanh nghiệp. Nhưng tựu trung lại, có thể khái quát qua 5 nhóm biểu hiện chính sau:
i) Ứng xử có văn hoá trên không gian mạng: Người dùng thể hiện tinh thần tôn trọng, trung thực, lịch sự trong giao tiếp trực tuyến; không phát tán tin giả, không bôi nhọ, không dùng ngôn ngữ thù ghét hay xúc phạm người khác. Đây là biểu hiện nền tảng của văn hoá số.
ii) Tôn trọng và bảo vệ bản quyền số: Có ý thức sử dụng, chia sẻ, sáng tạo nội dung số đúng pháp luật; không sao chép, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; khuyến khích sản xuất nội dung nguyên gốc và giá trị.
iii) Gìn giữ và lan toả bản sắc văn hoá dân tộc: Chủ động quảng bá các giá trị văn hoá Việt Nam trên môi trường số (nghệ thuật, di sản, ngôn ngữ, phong tục, lễ hội, ẩm thực...); kết hợp truyền thống với sáng tạo hiện đại để thích ứng với toàn cầu hoá.
iv)Tham gia xây dựng môi trường mạng lành mạnh: Ủng hộ, tham gia các chiến dịch văn hoá tích cực; báo cáo nội dung độc hại; góp phần tạo không gian số nhân văn để tri thức, cái đẹp và tinh thần đoàn kết được tôn vinh.
v) Phát triển năng lực số có trách nhiệm: Biết chọn lọc thông tin, đánh giá nguồn tin đáng tin cậy, sử dụng công nghệ để phục vụ học tập, sáng tạo và phát triển bản thân, thay vì lệ thuộc hay bị thao túng bởi công nghệ. Tóm lại, trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số là sự kết hợp hài hòa giữa ý thức đạo đức, hành vi số và năng lực công dân số, giúp con người sống văn minh, sáng tạo và nhân văn trong cả thế giới ảo lẫn đời sống thực.
Như vậy, trong kỷ nguyên số, trách nhiệm văn hoá không chỉ là ý thức đạo đức, hành xử có văn hoá mà còn là năng lực số có văn hoá, giúp con người hội nhập trên môi trường số mà vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam.
c) Quan hệ biện chứng giữa quyền văn hoá và trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số
Đảm bảo giữa “quyền văn hoá” và “trách nhiệm văn hoá” là một vấn đề căn cốt trong quản lý văn hóa thời đại số. Môi trường số cung cấp quyền tự do biểu đạt rộng lớn, nhưng nếu không được kiểm soát, có thể dẫn đến các hành vi tự do thông tin quá trớn, làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần và niềm tin của cộng đồng xã hội.
Quyền và trách nhiệm văn hóa tuy là hai khái niệm khác nhau, nhưng luôn gắn bó mật thiết và bổ trợ cho nhau. Nếu chỉ nhấn mạnh đến quyền văn hóa mà xem nhẹ trách nhiệm văn hoá, rất dễ dẫn đến sự lệch chuẩn khi con người nhân danh tự do biểu đạt để cổ xúy cho những nội dung phản cảm. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng đến trách nhiệm văn hoá mà không bảo đảm quyền văn hóa, sẽ làm mất đi tính sáng tạo và không phát huy quyền được thể hiện bản sắc riêng của mỗi cá nhân hoặc cộng đồng. Mọi sự mất cân bằng giữa quyền và trách nhiệm văn hoá đều có thể dẫn đến những hạn chế, cao hơn, có thể là các hệ lụy làm xói mòn giá trị văn hóa cộng đồng. Để xã hội phát triển bền vững, cần đảm bảo sự cân bằng giữa quyền và trách nhiệm văn hóa.
2. Thực trạng quyền và trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số ở Việt Nam
a) Về hoàn thiện thể chế quyền văn hoá và trách nhiệm văn hoá
Quyền văn hoá đã được Hiến pháp năm 2013 quy định theo tinh thần nhân quyền thế giới với các nội dung: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hoá, sử dụng các cơ sở văn hoá” (Điều 41); “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); “Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ (Điều 62)4. Đây là nền tảng pháp lý vững chắc, đảm bảo rằng văn hóa không chỉ là đặc quyền của một nhóm người mà là tài sản chung mà mọi người đều có quyền tiếp cận. Trong thời đại số, quyền này càng trở nên quan trọng khi công nghệ có thể mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa đến mọi đối tượng, không phân biệt địa lý hay điều kiện kinh tế.
Các luật hiện hành của Việt Nam như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 (các Điều 8, 13, 14) đã tạo sự bảo vệ quyền của tác giả và chủ sở hữu đối với tác phẩm, khuyến khích sáng tạo và khai thác hợp pháp sản phẩm văn hoá; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 tạo hành lang pháp lý để công dân được quyền tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước tại Điều 3, Điều 5; Luật Báo chí năm 2016 bảo đảm quyền tự do ngôn luận (điều 11), song song với các quy định về giới hạn nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội và đạo đức cộng đồng.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã nội luật hoá nhiều cam kết quốc tế liên quan đến quyền văn hoá, như “Công ước UNESCO 2005 về bảo vệ và phát huy đa dạng các biểu đạt văn hoá”, “Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật”, các Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) về bản quyền trong môi trường số. Các quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo Việt Nam trên trường quốc tế mà còn giúp Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu trong bảo đảm quyền văn hoá.
Về trách nhiệm văn hoá, hệ thống pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều quy định điều chỉnh hành vi, nhất là trên môi trường số nhằm bảo vệ giá trị văn hoá và duy trì chuẩn mực hành xử xã hội. Luật An ninh mạng năm 2018 quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc không đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm tôn giáo, tín ngưỡng; đồng thời yêu cầu các nền tảng cung cấp thông tin lưu trữ tại Việt Nam để phục vụ quản lý. Nghị định 72/2013/NĐ-CP và Nghị định 27/2018/NĐ-CP điều chỉnh việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, trong đó có điều khoản về quản lý nội dung do người dùng tạo ra. Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định chế tài xử phạt đối với hành vi đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín tổ chức hoặc danh dự cá nhân trên không gian mạng, với mức phạt có thể lên tới 100 triệu đồng. Đặc biệt, Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội ban hành theo Quyết định 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 không chỉ mang tính hướng dẫn mà còn là công cụ chuẩn mực nhằm giáo dục ý thức và tạo thói quen tích cực trong hành vi ứng xử, khuyến khích mỗi công dân số thực hiện trách nhiệm văn hoá khi tham gia môi trường trực tuyến. “Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030” (Quyết định 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020) đã đặt mục tiêu phát triển văn hoá số, số hoá di sản và mở rộng quyền tiếp cận thông tin văn hoá cho mọi người dân. Các chính sách này vừa bảo đảm quyền tiếp cận, sáng tạo, biểu đạt, vừa đề cao trách nhiệm trong bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá dân tộc trong không gian mạng.
Có thể thấy, hệ thống pháp luật về văn hoá của Việt Nam hiện nay đã hình thành một khung pháp lý tương đối toàn diện để điều chỉnh cả quyền và trách nhiệm văn hoá trong bối cảnh chuyển đổi số. Tuy nhiên, việc thực thi quyền tác giả trên môi trường số vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức.
b) Về thực hiện quyền và trách nhiệm văn hoá
Công nghệ số đã và đang trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc hiện thực hoá cả quyền và trách nhiệm văn hoá ở Việt Nam.
Trước hết, công nghệ số góp phần mở rộng quyền tiếp cận và hưởng thụ văn hoá. Thông qua các nền tảng trực tuyến như Vietnam National Museum of History online, Google Arts & Culture, hoặc các kênh phát sóng trực tiếp sự kiện văn hoá, nghệ thuật, người dân ở mọi vùng miền của Việt Nam đều có thể tham gia đời sống văn hoá mà không bị hạn chế bởi khoảng cách địa lý. Trưng bày tương tác ảo 3D chuyên đề “Bảo vật quốc gia” của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 10 năm 2022 đã đạt 58.661 lượt truy cập5. Công nghệ số cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sáng tạo văn hoá. Các công cụ đồ họa 3D, trí tuệ nhân tạo, phần mềm dựng phim, hay nền tảng chia sẻ video như YouTube, TikTok đã mở ra cơ hội cho mọi cá nhân trở thành nhà sáng tạo nội dung, đây là một biểu hiện rõ nét của quyền sáng tạo và biểu đạt văn hoá. Thực tế, Dự án “Sử Việt” của nhóm Đại Việt Cổ Phong sử dụng hoạt hình 3D để tái hiện lịch sử Việt Nam vừa thu hút giới trẻ, vừa truyền tải giá trị lịch sử dưới hình thức mới mẻ. Các dự án số hoá di sản, như “Số hoá Mộc bản triều Nguyễn” hay “Không gian Văn hoá số 3D Văn Miếu - Quốc Tử Giám”..., cho phép công chúng tiếp cận kho tàng di sản từ xa, không bị giới hạn về thời gian và địa lý. Điều này góp phần thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận văn hoá6 ở Việt Nam.
Về quyền sáng tạo, nền tảng số tạo điều kiện cho nghệ sĩ và nhà sáng tạo nội dung độc lập sản xuất và phân phối tác phẩm tới công chúng toàn cầu với chi phí thấp. Nhiều nghệ sĩ trẻ Việt Nam đã sử dụng YouTube, Spotify hoặc TikTok để đưa sản phẩm âm nhạc ra quốc tế, đồng thời khẳng định bản sắc văn hoá Việt. Việc số hoá hiện vật, lập cơ sở dữ liệu di sản quốc gia, hay ứng dụng công nghệ GIS để quản lý di tích đã giúp giảm nguy cơ mất mát, hư hỏng và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, giảng dạy. Dự án số hoá Mộc bản triều Nguyễn - di sản tư liệu thế giới được UNESCO công nhận nêu trên hiện đã được lưu trữ và truy cập trực tuyến qua Cổng Thông tin điện tử của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Ở khía cạnh trách nhiệm văn hoá, công nghệ số hỗ trợ quản lý và giám sát nội dung văn hoá thông qua trí tuệ nhân tạo (AI) và hệ thống lọc từ khoá, giúp hạn chế thông tin vi phạm pháp luật, bảo vệ giá trị văn hoá và thuần phong mỹ tục. Một số nền tảng trong nước đã áp dụng công nghệ nhận diện hình ảnh để phát hiện và gỡ bỏ nội dung phản cảm, vi phạm bản quyền hoặc bôi nhọ cá nhân. Những tiến bộ về hạ tầng viễn thông, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, mạng xã hội không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận văn hoá mà còn tạo ra môi trường thuận lợi để cho người dân sáng tạo và bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc. Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, công nghệ số cho phép Việt Nam quảng bá văn hoá ra thế giới nhanh chóng và rộng rãi hơn bao giờ hết. Các lễ hội, chương trình nghệ thuật truyền thống được phát sóng trực tuyến hoặc trên nền tảng OTT không chỉ phục vụ khán giả trong nước mà còn tiếp cận cộng đồng người Việt ở nước ngoài và khán giả quốc tế, góp phần thực hiện sứ mệnh ngoại giao văn hoá mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Có thể nói, công nghệ số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là môi trường mới để quyền văn hoá được mở rộng và trách nhiệm văn hoá được củng cố. Những thành quả nêu trên cho thấy sự lan toả nhanh chóng, không giới hạn của công nghệ vừa tạo ra cơ hội chưa từng có cho việc bảo tồn và phát triển văn hoá, vừa đặt nền tảng cho các giá trị văn hoá dân tộc thích ứng với thời đại số hoá toàn cầu.
c) Thách thức đối với việc bảo đảm quyền và thực thi trách nhiệm văn hoá
Bên cạnh những cơ hội to lớn, công nghệ số cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với việc bảo đảm quyền và thực thi trách nhiệm văn hoá. Những thách thức này không chỉ xuất phát từ đặc điểm phi biên giới, tốc độ lan truyền nhanh của môi trường số, mà còn do hạn chế về luật pháp và ý thức và trình độ ứng xử số của một bộ phận người dùng.
Cơ chế bảo vệ quyền sáng tạo chưa thực sự đáp ứng tốc độ phát triển của công nghệ. Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế như Công ước Berne hay Hiệp ước WIPO đã được Việt Nam thực thi, nhưng tình trạng sao chép, phát tán trái phép tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc vẫn diễn ra phổ biến. Phim điện ảnh Việt Nam bị phát tán lậu chỉ sau vài giờ công chiếu, hay tình trạng livestream trái phép các sự kiện thể thao, biểu diễn nghệ thuật đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp văn hoá. Theo Tổng Giám đốc Liên minh Chống Vi phạm Bản quyền (CAP) và Hiệp hội Công nghiệp Video Châu Á (AVIA), ông Matthew Cheetham, “Việt Nam hiện đang đứng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về tỷ lệ vi phạm bản quyền nội dung số. Riêng trong năm 2022, Việt Nam đã thiệt hại khoảng 348 triệu USD chỉ riêng trong 3 lĩnh vực, truyền hình, phim và nhạc số”7.
Sự thiếu chủ động về cơ chế giám sát, xử lý vi phạm do còn phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác của các công ty công nghệ quốc tế khiến các nền tảng mạng xã hội dễ dàng trở thành môi trường cho tin giả bùng phát. Nhiều video, bài viết trên YouTube, Facebook hoặc TikTok đã cố tình bóp méo các sự kiện lịch sử Việt Nam, phủ nhận công lao của các nhân vật lịch sử. Môi trường số với tính ẩn danh cao còn dẫn đến hành vi ứng xử thiếu văn hoá, như ngôn từ thù ghét, công kích cá nhân, bạo lực mạng. Đây là biểu hiện rõ rệt của việc quyền tự do văn hoá bị lạm dụng khi trách nhiệm văn hoá bị xem nhẹ, thách thức trực tiếp và xâm hại môi trường thông tin, có thể dẫn đến gây chia rẽ xã hội.
Như vậy, môi trường văn hoá số vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với quyền và trách nhiệm văn hoá ở Việt Nam. Nếu không có giải pháp kiểm soát hiệu quả, các tác động tiêu cực này có thể làm suy giảm giá trị văn hoá, ảnh hưởng đến sự gắn kết xã hội và niềm tin công chúng.
3. Thúc đẩy quyền và trách nhiệm văn hoá ở Việt Nam trong kỷ nguyên số
a) Nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa quyền và trách nhiệm văn hoá
Trong quản lý văn hoá, quyền và trách nhiệm văn hoá cần được xem là hai mặt không thể tách rời nhau nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng được tự do sáng tạo, tiếp cận, hưởng thụ và biểu đạt văn hoá mà không gây phương hại đến lợi ích chung, giá trị văn hoá dân tộc và chuẩn mực xã hội.
Quyền văn hoá không thể được phát huy tối đa nếu không có sự thực hiện đầy đủ trách nhiệm văn hoá. Chẳng hạn như, quyền sáng tạo nội dung số chỉ bền vững khi người sáng tạo tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ và tôn trọng giá trị văn hoá. Trách nhiệm văn hoá lại chỉ có ý nghĩa khi xuất phát từ việc bảo vệ và bảo đảm quyền văn hoá của mọi người. Như việc ngăn chặn tin giả, nội dung xấu độc không phải nhằm hạn chế quyền biểu đạt, mà là để bảo đảm môi trường thông tin lành mạnh, nơi quyền văn hoá có thể được thực hiện một cách hiệu quả, cũng như quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội phải được thực hiện trong khuôn khổ luật pháp, không vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, hay quyền và danh dự của người khác.
Từ góc nhìn xã hội học văn hoá, công nghệ số tạo ra “không gian công cộng ảo” (virtual public sphere) - nơi mọi người có thể tham gia, chia sẻ và sáng tạo văn hoá. Tuy nhiên, nếu quyền cá nhân được đề cao quá mức mà thiếu sự điều chỉnh bằng trách nhiệm tập thể, không gian này dễ biến thành nơi hỗn tạp, thiếu chuẩn mực, làm xói mòn giá trị văn hoá. Ngược lại, nếu quản lý quá chặt, hạn chế quyền biểu đạt hợp pháp, thì văn hoá số sẽ mất tính sáng tạo và đa dạng.
Từ góc nhìn quản trị nhà nước, cân bằng giữa quyền và trách nhiệm văn hoá đòi hỏi một hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi linh hoạt, vừa bảo vệ quyền hợp pháp, vừa xử lý kịp thời vi phạm. Đây là lý do Việt Nam song song ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội năm 2021 để hướng dẫn hành vi chuẩn mực, đồng thời áp dụng Luật An ninh mạng năm 2018 và các nghị định xử phạt để răn đe hành vi vi phạm.
Như vậy, mối quan hệ quyền - trách nhiệm văn hoá trong kỷ nguyên số có thể được hình dung như một hệ cân bằng động: Khi quyền được bảo đảm đầy đủ, con người sẽ có động lực thực hiện trách nhiệm; Khi trách nhiệm được thực thi nghiêm túc, quyền mới được bảo vệ lâu dài. Sự bền vững của văn hoá ở Việt Nam kỷ nguyên số vì thế phụ thuộc vào khả năng duy trì trạng thái cân bằng này, với sự tham gia của cả ba trụ cột: Nhà nước - Doanh nghiệp - Công dân số.
b) Đảm bảo quyền văn hoá đi đôi với trách nhiệm văn hoá
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc bảo đảm quyền văn hoá đồng thời duy trì trách nhiệm văn hoá là một thách thức kép đối với Việt Nam. Khung giải pháp cần được tiếp cận một cách toàn diện, gắn kết cả yếu tố pháp luật, quản lý nhà nước, giáo dục - truyền thông, ứng dụng công nghệ. Mục tiêu không chỉ là khắc phục những hạn chế hiện tại, mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của văn hoá Việt Nam trong môi trường số.
Hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản lý nhà nước
Việc bổ sung các điều khoản xử lý nhanh các hành vi vi phạm bản quyền trực tuyến, quy định rõ hơn về trách nhiệm của nền tảng cung cấp dịch vụ số, cũng như nội luật hoá đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền văn hoá là yêu cầu cấp thiết.
Trong môi trường số, quản lý văn hoá không thể giới hạn ở phạm vi một cơ quan đơn lẻ, mà cần một cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Công an cùng các cơ quan hữu quan và Chính quyền địa phương các cấp và sự hợp tác quốc tế với các nền tảng xuyên biên giới nhằm giải quyết các hành vi vi phạm trong và xuyên quốc gia với cơ chế chia sẻ dữ liệu và xử lý đồng bộ. Đào tạo một đội ngũ cán bộ văn hoá am hiểu cả lĩnh vực công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo sẽ là điều kiện tiên quyết để thích ứng với bối cảnh mới trong kỷ nguyên số.
Nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền và trách nhiệm văn hoá
Xây dựng hành vi văn hoá nhằm bảo vệ quyền con người nói chung và quyền văn hoá nói riêng trong kỷ nguyên số theo 5 nhóm biểu hiện chính đã nêu ở trên (phần 1), giúp nâng cao nhận thức và đạo đức số cho mỗi cá nhân cho đến hình thành hành vi ứng xử có văn hoá trong cộng đồng.
Cần giáo dục kỹ năng số an toàn trong trường học và cộng đồng, giúp người dân biết bảo vệ dữ liệu cá nhân, tránh bị lừa đảo, quấy rối hoặc thao túng. Giáo dục văn hoá thời đại số cần được tích hợp vào chương trình học chính khoá từ tiểu học đến đại học, nhằm trang bị cho thế hệ trẻ kỹ năng tiếp nhận, sáng tạo và ứng xử văn minh trên không gian số.
Truyền thông đại chúng, đặc biệt là mạng xã hội có thể trở thành kênh lan toả hiệu quả những giá trị chuẩn mực thông qua các chiến dịch cộng đồng hay việc huy động người có tầm ảnh hưởng tham gia định hướng hành vi.
Các nền tảng và cơ quan quản lý cần tăng cường cơ chế minh bạch, xử lý vi phạm kịp thời, tạo môi trường mạng nhân văn, tôn trọng pháp luật và quyền con người. Khi công nghệ gắn liền với giá trị đạo đức và lòng tôn trọng con người, xã hội số mới thật sự văn minh và bền vững.
c) Đưa công nghệ trở thành công cụ bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá, quyền văn hoá
Số hoá toàn diện di sản văn hoá, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện và ngăn chặn vi phạm bản quyền, hay sử dụng blockchain để quản lý quyền sở hữu và giao dịch tác phẩm số sẽ góp phần xây dựng một hạ tầng văn hoá số minh bạch và bền vững. Việc xây dựng một nền tảng văn hoá số quốc gia - nơi tập hợp, trưng bày và quảng bá các sản phẩm văn hoá Việt Nam - không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, mở rộng khả năng xuất khẩu văn hoá ra thị trường quốc tế mà còn là công cụ số để bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá, quyền văn hoá.
Kết luận
Bối cảnh số hoá đặt Việt Nam đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Công nghệ số không chỉ mở rộng không gian sáng tạo, tiếp cận và lan toả văn hoá, mà còn đặt ra những yêu cầu mới về ứng xử, quản lý và bảo vệ giá trị văn hoá dân tộc trong thời đại số khiến cho quyền và trách nhiệm văn hoá trở thành vấn đề thời sự. Quyền văn hoá chỉ có thể được đảm bảo bền vững khi gắn liền với trách nhiệm văn hoá, sự tuân thủ pháp luật, bảo vệ giá trị và ứng xử có văn hoá. Trong môi trường số, mối quan hệ này mang tính biện chứng, đòi hỏi sự cân bằng động, linh hoạt và thích ứng.
Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp để quyền và trách nhiệm văn hoá được nhìn nhận và thực thi một cách cân bằng thì văn hoá Việt Nam mới có thể phát triển bền vững, hội nhập quốc tế mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên số./.
TS. Nguyễn Thị Tuyến
Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 49 (10/2025)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) Đại hội đồng Liên hợp quốc, Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người năm 1948, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx, truy cập ngày 10/8/2025.
(2) Đại hội đồng Liên hợp quốc, Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Cong-uoc-quoc-te-cac-quyen-kinh-te-xa-hoi-va-van-hoa-1966-269761.aspx, truy cập ngày 10/8/2025.
(3) Đại hội đồng Liên hợp quốc, Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Cong-uoc-quoc-te-cac-quyen-kinh-te-xa-hoi-va-van-hoa-1966-269761.aspx, truy cập ngày 10/8/2025.
(4) Quốc hội, Hiến pháp năm 2013.
(5) Nguyễn Hải Vân (2022), Trưng bày ảo 3D “Bảo vật quốc gia” - bước ngoặt đổi mới, cập nhật ứng dụng công nghệ trong giới thiệu trưng bày của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3090/73525/trung-bay-ao-3d-bao-vat-quoc-gia-buoc-ngoat-djoi-moi-cap-nhat-ung-dung-cong-nghe-trong-gioi-thieu-trung-bay-cua-bao-tang-lich-su-quoc-gia.html, truy cập ngày 10/8/2025.
(6) UNESCO (2005), Convention on the Protection and Promotion of the Diversity of Cultural Expressions (vie), https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000142919_vie, truy cập ngày 10/8/2025.
(7) Thu Uyên (2025), “65% người dùng Việt Nam đang xem và truy cập nội dung lậu”, https://vietnamnet.vn/65-nguoi-dung-viet-nam-dang-xem-va-truy-cap-noi-dung-lau-2428776.html, truy cập ngày 10/8/2025.