Bảo đảm quyền của người bị hại là một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật quốc tế về tư pháp hình sự, thể hiện ở việc thừa nhận, bảo vệ và hỗ trợ người bị hại trong suốt quá trình tố tụng cũng như sau khi tội phạm đã xảy ra. Trên cơ sở phân tích các chuẩn mực quốc tế, bài viết chỉ ra những yêu cầu đặt ra cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi nhằm bảo vệ đầy đủ, kịp thời và hiệu quả các quyền của người bị hại, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và yêu cầu cải cách tư pháp.

Ảnh minh họa. Nguồn: lsvn.vn.
1. Đặt vấn đề
Người bị hại trong các vụ án hình sự (VAHS) là một trong những chủ thể chính và quan trọng nhất của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Đây là người đã bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại, là chủ thể cần sự quan tâm đặc biệt từ phía Nhà nước giúp họ đòi lại công lý, sự công bằng cũng như bảo đảm quyền tố tụng của mình trong việc tham gia vào tiến trình giải quyết đúng đắn VAHS. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn kiện khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của người bị hại nói riêng, hướng đến mục tiêu hệ thống chính sách và pháp luật phải bảo đảm phù hợp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Quyền của con người nói chung, quyền của người bị hại nói riêng được cộng đồng quốc tế, đặc biệt là tổ chức Liên hợp quốc quan tâm từ rất sớm, ngay từ những Điều ước quốc tế đầu tiên như Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người năm 1948, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966... Cùng với đó, pháp luật quốc tế đã tập trung quy định về quyền của người bị hại trong TTHS trong một số văn kiện pháp lý quốc tế, như Tuyên ngôn năm 1985 về các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự về nạn nhân của tội phạm và lạm dụng quyền lực của Liên hợp quốc được thông qua ngày 29/11/1985; Tuyên bố về các nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản về việc đền bù và bồi thường cho nạn nhân bị xâm phạm nghiêm trọng quyền con người năm 2006 của Liên hợp quốc... Đây được coi là những văn kiện pháp lý quan trọng, thể hiện tập trung nhất các quyền của người bị hại trong hệ thống tư pháp hình sự quốc tế.
2. Nội dung pháp luật quốc tế về quyền của người bị hại trong các vụ án hình sự
Thứ nhất, nội dung về quyền của người bị hại trong các vụ án hình sự trong các điều ước quốc tế
Một là, về nội hàm khái niệm người bị hại. Trên thực tế các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế không sử dụng thuật ngữ “người bị hại”, thay vào đó là - nạn nhân của tội phạm. Nội hàm này phổ biến trong Tuyên bố năm 1985 của Liên hợp quốc1, Tuyên ngôn năm 20062, và trong một số điều ước trong khu vực như Công ước Châu Âu về bồi thường cho các nạn nhân của tội phạm bạo lực năm 19833... Tuy nhiên, nội hàm khái niệm về nạn nhân của tội phạm trong các văn kiện pháp lý quốc tế kể trên tương đối rộng khi cho rằng không chỉ bao gồm những người trực tiếp là người bị xâm hại trực tiếp bởi tội phạm; mà còn có thể là nạn nhân gián tiếp (thành viên gia đình hoặc những người sống phụ thuộc vào nạn nhân trực tiếp) và nạn nhân mở rộng (người bị tội phạm xâm hại do can thiệp để giúp đỡ nạn nhân trực tiếp hoặc ngăn chặn tội phạm). Các nạn nhân này được công nhận bất kể thủ phạm có bị phát giác, truy tố, kết án hay không.
Hai là, về phạm vi và thời điểm công nhận nạn nhân của tội phạm - đây được coi là quyền mang tính mặc nhiên của một người bị thiệt hại về thể chất, tài sản, tinh thần do tội phạm gây ra khi tham gia vào VAHS trong quan niệm pháp lý quốc tế. Tuyên bố năm 2006 cũng đã nhấn mạnh về quyền được công nhận đối với nạn nhân của tội phạm, theo đó “Địa vị của một người là nạn nhân không phụ thuộc vào việc thủ phạm đã được nhận dạng, bị bắt, bị truy tố hoặc đã bị kết tội hay chưa và bất kể mối quan hệ có thể tồn tại hay có thể đã tồn tại giữa nạn nhân và thủ phạm” (khoản 9 Mục V).
Ba là, nhóm quyền tiếp cận công lý và công bằng bao gồm quyền được tôn trọng nhân phẩm, tiếp cận nhanh chóng các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi và khắc phục hậu quả kịp thời; quyền được hỗ trợ từ hệ thống cơ quan tư pháp và hành chính nhằm bảo đảm việc bồi thường thông qua các thủ tục chính thức hoặc không chính thức một cách nhanh chóng, công bằng, ít tốn kém và thuận tiện; đồng thời được thông báo rõ ràng về quyền khiếu nại, bồi thường cùng các cơ chế, thủ tục liên quan4. Tuyên bố năm 1985 cũng đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan thực thi pháp luật, nhân viên y tế, dịch vụ xã hội và cá nhân khác của quốc gia thành viên phải được đào tạo để có khả năng đáp ứng nhu cầu của nạn nhân, bảo đảm việc hỗ trợ được thực hiện nhanh chóng và phù hợp5...
Bốn là, quyền được hỗ trợ tư pháp trong quá trình tham gia tố tụng, như việc được cung cấp thông tin về vai trò, phạm vi quyền, thời gian và tiến trình giải quyết vụ án; được biết về kết quả xử lý và nơi có thể yêu cầu cung cấp thông tin; đồng thời được áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu thủ tục, bảo vệ bí mật đời tư và đáp ứng các nhu cầu cần thiết khác6. Cùng với đó, Tuyên bố năm 2006 nhấn mạnh trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo đảm cho nạn nhân nhận hỗ trợ về vật chất, y tế, tâm lý và xã hội thông qua các nguồn lực của Nhà nước, cộng đồng và xã hội; thông tin đầy đủ về các dịch vụ và điều kiện để tiếp cận thuận lợi; đào tạo cán bộ thực thi pháp luật, y tế, dịch vụ xã hội và các cá nhân liên quan để thực hiện đầy đủ các quyền của nạn nhân và bảo đảm hỗ trợ kịp thời; chú ý đến những nhu cầu đặc thù phát sinh từ tính chất và mức độ thiệt hại mà họ phải gánh chịu7.
Năm là, quyền được bảo vệ. Bên cạnh những quy định về bảo vệ nạn nhân nói chung như đã nêu ở trên, Tuyên bố năm 1985 của Liên hợp quốc còn quy định trách nhiệm của các quốc gia trong bảo vệ nạn nhân của tội phạm, gồm: 1) nội luật hóa những quy định cấm lạm dụng quyền lực và quy định đền bù cho các nạn nhân của những hành vi có tính chất lạm dụng (sự đền bù gồm phục hồi hoặc bồi thường và sự trợ giúp cần thiết về vật chất, y tế, tâm lý và hỗ trợ và ủng hộ của xã hội); 2) ký kết các điều ước quốc tế đa phương liên quan tới bảo vệ nạn nhân; 3) định kỳ rà soát và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia, đảm bảo sự thích nghi, phù hợp với yêu cầu trên thực tế, góp phần thúc đẩy các chính sách và các cơ chế ngăn ngừa các hành vi lạm dụng quyền lực, và thông qua các nhóm quyền và các bảo đảm bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân của tội phạm8.
Sáu là, quyền được bảo đảm bồi thường thiệt hại, gồm hai nhóm. Trước tiên là quyền được đền bù từ nguồn của người phạm tội (restitution), theo đó người bị hại, thân nhân hoặc gia đình của họ có quyền được cá nhân gây ra tội phạm hoặc bên thứ ba có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại về tài sản, chi trả chi phí phát sinh do hành vi phạm tội và hoàn trả các khoản chi phí tham gia tố tụng9. Các quốc gia thành viên cần bảo đảm việc giải quyết đền bù dân sự được tích hợp như một phần của bản án hình sự10; trong trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường, người gây thiệt hại phải thực hiện phục hồi môi trường, chi trả chi phí khôi phục cơ sở hạ tầng, tiến hành các hoạt động thay thế hoặc di dời cần thiết11. Biện pháp khắc phục hậu quả có thể bao gồm trả lại tài sản, bồi hoàn thiệt hại hoặc mất mát, hoàn trả chi phí phát sinh, cung cấp dịch vụ hoặc khôi phục quyền của nạn nhân. Nếu tội phạm do người có thẩm quyền thực hiện, trách nhiệm bồi thường thuộc về Nhà nước hoặc cơ quan mà người đại diện đã gây ra hành vi phạm tội. Thứ hai, là quyền được bồi thường từ quỹ công và quyền được hỗ trợ cần thiết từ Nhà nước và cộng đồng. Việc bồi thường từ nguồn công áp dụng khi các khoản đền bù từ người phạm tội và các nguồn khác không đáp ứng đủ; nhà nước cần có biện pháp hỗ trợ tài chính cho nạn nhân bị thiệt hại nghiêm trọng về thể chất, tinh thần hoặc cho thân nhân, người phụ thuộc của người đã chết hoặc mất năng lực do tội phạm gây ra. Bên cạnh đó, nhóm quyền được hỗ trợ cần thiết bao gồm việc cung cấp dịch vụ y tế, hỗ trợ khẩn cấp, chăm sóc và phục hồi tâm lý, cùng các hình thức viện trợ nhân đạo khác từ chính phủ, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. Pháp luật quốc tế đồng thời đặt ra yêu cầu đối với pháp luật quốc gia về việc thiết lập cơ chế bảo đảm nạn nhân được đền bù nhanh chóng, công bằng, ít tốn kém và dễ tiếp cận12. Tuyên bố năm 2006 cũng nhấn mạnh nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm khi không thể bồi thường từ người phạm tội hoặc các nguồn khác thì nhà nước phải nỗ lực cung cấp hỗ trợ tài chính cho nạn nhân và thân nhân của họ13, đồng thời khuyến khích việc xây dựng, mở rộng và củng cố các quỹ quốc gia dành cho bồi thường nạn nhân.
Thứ hai, nội dung quyền của người bị hại trong các thỏa thuận và các chương trình trong khu vực
Từ giữa những năm 1970, tại các cuộc họp cấp cao của mình, Hội đồng châu Âu (Council of Europe) đã thảo luận về các biện pháp bồi thường cho nạn nhân. Từ sau năm 1993, Hội đồng Liên minh châu Âu cũng đã có nhiều cuộc họp thảo luận về quyền của các nạn nhân. Đến 15/3/2001 Công ước châu Âu về vai trò, vị trí của người bị hại trong TTHS đã được thông qua bởi Đại hội đồng Liên minh châu Âu. Thực hiện Quyết định khung này, một Chỉ thị về bồi thường nhà nước cho các nạn nhân của tội phạm đã ra đời và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên EU kể từ ngày 22/3/2001.
Công ước châu Âu về bồi thường cho các nạn nhân của tội phạm bạo lực năm 1983 đã đưa ra những tiêu chuẩn liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của tội phạm với quan điểm việc giúp đỡ các nạn nhân “phải là một mối quan tâm thường xuyên của chính sách tội phạm, ngang tầm với việc trừng phạt hình sự đối với những kẻ phạm tội”. Công ước ghi nhận những nạn nhân đủ điều kiện bồi thường tại Điều 2 gồm: 1) “Những người bị thương nghiêm trọng trên cơ thể hoặc sức khoẻ suy yếu bởi nguyên nhân trực tiếp từ một vụ bạo hành có chủ ý”; 2) “Những người sống phụ thuộc vào người đã chết do hậu quả của tội ác này” ngay cả khi đối tượng thực hiện hành vi phạm tội không bị truy tố hoặc trừng phạt. Nói cách khác, nội hàm khái niệm nạn nhân của tội phạm trong hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu gồm 03 loại: 1) Nạn nhân trực tiếp là người bị xâm hại trực tiếp bởi tội phạm; 2) Nạn nhân gián tiếp gồm thành viên gia đình hoặc những người sống phụ thuộc vào nạn nhân trực tiếp; 3) Nạn nhân mở rộng là những người bị tội phạm xâm hại do can thiệp để giúp đỡ nạn nhân trực tiếp hoặc ngăn chặn tội phạm. Các nạn nhân này được công nhận bất kể thủ phạm có bị phát giác, truy tố, kết án hay không14.
Xét về lịch sử cũng như quy mô phát triển thì quyền con người ở châu Mỹ xuất hiện sau các quốc gia châu Âu, như Ủy ban quyền con người châu Mỹ (IACHR) được thành lập năm 1959, Công ước Châu Mỹ về quyền con người (American Convention on Human Rights) ra đời năm 1969. Trong đó, các quốc gia trong khu vực này cũng chưa đưa ra được những văn kiện pháp lý quốc tế chung liên quan đến người bị hại, cũng như vấn đề bảo đảm quyền của nhóm người này.
Còn tại khu vực châu Á, năm 1993, trong cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị thế giới lần thứ hai về quyền con người, các quốc gia châu Á đã nhóm họp tại Băng-cốc và đưa ra Tuyên bố Băng-cốc về quyền con người (The Bangkok Declaration of Human Rights). Năm 1997, Ủy ban Quyền con người châu Á15 được thành lập, nhưng không được công nhận về mặt pháp lý và có ảnh hưởng hạn chế ở khu vực. Đến tháng 10/2009, ASEAN thành lập cơ chế khu vực đầu tiên về nhân quyền - Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền16 (AICHR) theo Điều 14 Hiến chương ASEAN, đóng vai trò cơ quan nhân quyền chính thức. Tiếp đó, ngày 7/4/2010, Ủy ban Thúc đẩy và Bảo vệ Quyền Phụ nữ và Trẻ em ASEAN17 (ACWC) ra đời. Tại Thông cáo chung họp ngày 19-20/7/2010, các Ngoại trưởng ASEAN nhấn mạnh vai trò trọng yếu của AICHR và mối quan hệ hợp tác với ACWC. Hiện ASEAN có hai cơ chế chính để bảo vệ quyền con người là AICHR và ACWC, nhưng vẫn chưa có cơ chế chính thức bảo đảm quyền của người bị hại.
3. Những yêu cầu đặt ra với Việt Nam
Việt Nam - với tư cách là quốc gia thành viên của nhiều tổ chức quốc tế lớn trên thế giới và trong khu vực, luôn cố gắng, nỗ lực và cam kết thực hiện các điều ước quốc tế nói chung, các điều ước quốc tế về quyền con người nói riêng18. Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật quốc tế về quyền của người bị hại trong VAHS với những quy định trong pháp luật Việt Nam, có thể thấy vẫn có những điểm mà chúng ta có thể tham khảo và hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam. Cụ thể như sau:
Một là, cần cân nhắc bổ sung nội dung về quyền được công nhận là người bị hại vào trong pháp luật TTHS Việt Nam thông qua các văn bản tố tụng cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Điều này góp phần bảo đảm quyền của người bị hại được quy định một cách rõ ràng, công khai, góp phần giúp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng như người bị hại nói chung biết và thực hiện những quyền được quy định trong pháp luật. Tác giả cho rằng, cần bổ sung vào quy định về người bị hại tại Điều 62 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) như sau: “người bị hại được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận khi xác định có dấu hiệu thiệt hại”19. Theo đó, thời điểm để cơ quan tiến hành tố tụng công nhận một cá nhân là người bị hại khi xác định sơ bộ có dấu hiệu thiệt hại do tội phạm gây ra. Khoảng thời gian công nhận tư cách người bị hại có thể được tiến hành sau khi khởi tố vụ án hình sự cho đến trước ngày quyết định đưa vụ án ra xét xử. Việc thừa nhận người bị hại phải được thể hiện bằng văn bản (thông báo hoặc quyết định), trong đó có nêu rõ họ tên, là người bị hại trong vụ án và quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.
Hai là, nghiên cứu về những quy định đối với quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, các quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia tố tụng của người bị hại trong pháp luật quốc tế, cần phải quy định cụ thể, trực tiếp những nội dung này trong pháp luật TTHS Việt Nam. Bởi, đây là những quyền mang tính cốt lõi của con người, cần được thực hiện rõ ràng và đầy đủ bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Để đạt được mục đích đó cần bổ sung các quy định về bảo vệ người bị hại trong các VAHS khi họ yêu cầu và cơ quan chức năng có cơ sở cho rằng người bị hại bị đe dọa. Cùng với đó, cần bổ sung yêu cầu về đối xử thích hợp với người bị hại trong TTHS nói chung, phải đặt ra yêu cầu về sự tôn trọng, thân thiện, cảm thông đối với họ trong các thủ tục tố tụng giống như trường hợp ứng xử với người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi. Để bảo đảm quyền này luôn khả thi trên thực tế cần sửa đổi, bổ sung nội dung tại Điều 62 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) theo hướng: “Khi có căn cứ để cho rằng bị hại bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, tài sản, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm và tài sản thì cơ quan đang tiến hành tố tụng có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ. Bị hại được quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình. Ngoài ra, bị hại cũng được giữ bí mật thông tin theo yêu cầu chính đáng của họ”.
Ba là, cần chú trọng đến công tác bảo đảm bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đặc biệt là trong các vụ án về kinh tế. Bởi trên thực tế, thiệt hại về tài sản là một trong những thiệt hại chính, chủ yếu trong các vụ án hình sự hiện nay. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam khi quy định ra các biện pháp bảo đảm như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tài sản (Điểm đ khoản 1 Điều 4; khoản 1, 4 Điều 129 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)) lại quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định rõ danh tính của người bị buộc tội, mới có thể xác định tài khoản nào thuộc sở hữu của người bị buộc tội, tài khoản nào có liên quan đến hành vi phạm tội để làm căn cứ áp dụng biện pháp phong tỏa theo đúng quy định pháp luật. Trong một số trường hợp, việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản phát sinh nhiều khó khăn trong quá trình xử lý. Có tình huống ngay sau khi tiếp nhận tố giác tội phạm, cơ quan chức năng lập tức áp dụng biện pháp phong tỏa nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản nhưng khi vụ việc đang trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc biện pháp tố tụng đối với bất kỳ cá nhân cụ thể nào, do đó không đủ điều kiện pháp lý để thực hiện phong tỏa theo quy định20.
Để khắc phục điều này, đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại cho người bị hại, cần sớm có văn bản hướng dẫn những vấn đề về thẩm quyền ra lệnh kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản (hướng dẫn trường hợp nào Chánh án, Phó Chánh án ra lệnh, trường hợp nào Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa ra lệnh kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản); đưa ra quy định cụ thể trong mọi trường hợp bị can, bị cáo phạm tội mà Bộ luật Hình sự có quy định hình phạt tiền, có thể tịch thu tài sản, bồi thường thiệt hại, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải điều tra, xác minh, truy tìm tài sản của bị can, bị cáo là yêu cầu bắt buộc. Cùng với đó, về phạm vi kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, hiểu như thế nào là “tương ứng”, cần hướng dẫn cụ thể để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất, tránh tùy tiện, không thống nhất; quy định cụ thể trường hợp nào bắt buộc phải áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản; hướng dẫn các bước tiến hành kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, xác định tài sản chung, tài sản riêng của bị can, bị cáo; quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc bị can, bị cáo tẩu tán tài sản dẫn đến không còn tài sản để thi hành án. Đồng thời, cần quy định đối với bất động sản, tài sản có giá trị lớn phải đăng ký, chứng minh rõ nguồn gốc và có cơ quan kiểm soát những tài sản đó; cần hướng dẫn cụ thể tài sản nào cần phải kê biên, đối với các vụ án tham nhũng, kinh tế, ma túy phải kịp thời phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản ngay và đối với tài sản nhỏ nhưng giá trị rất lớn, đề xuất giao cho cơ quan trung gian quản lý, đảm bảo tài sản không bị tẩu tán, gây khó khăn cho thi hành án.
Bốn là, cần ghi nhận trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền của người bị hại trong các VAHS. Tuyên bố của Liên hợp quốc năm 1985 cũng như Khuyến nghị có liên quan của Hội đồng châu Âu về vị trí của nạn nhân, đã đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (cụ thể là cơ quan điều tra), theo đó nhấn mạnh những cơ quan điều tra này cần được đào tạo để giải quyết các vấn đề của nạn nhân trên tinh thần thông cảm, trợ giúp và trấn an nạn nhân; nên thông báo cho nạn nhân về khả năng được trợ giúp, tư vấn pháp luật và tư vấn thực tế, bồi thường từ người phạm tội và từ quốc gia thành viên. Trong bất kỳ báo cáo nào cho các cơ quan truy tố, cảnh sát nên trình bày rõ ràng và chính xác nhất những thiệt hại và tổn thương mà nạn nhân phải gánh chịu. Những quy định này giúp bảo đảm sự cảm thông và tôn trọng đối với người bị hại, đảm bảo cho họ thấy từng hành vi phạm tội được xem xét một cách cẩn thận, qua đó giữ niềm tin của người bị hại rằng công lý đang được thực thi. Đây là quy định cần được ghi nhận trong pháp luật TTHS Việt Nam về trách nhiệm và nghĩa vụ cụ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng (đặc biệt là Cơ quan điều tra) trong tiếp xúc, làm việc và bảo đảm quyền của người bị hại khi tham gia vào các VAHS nói chung.
Năm là, bổ sung, sửa đổi nguyên tắc kiểm tra, giám sát trong TTHS. Về nguyên tắc, hoạt động giám sát càng khách quan, công khai khi có sự tham gia của nhiều chủ thể giám sát. Trong khi đó, Điều 33 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) mới chỉ đề cập đến giám sát của các cơ quan nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc nhưng chưa đề cập đến giám sát của cá nhân đối với hoạt động TTHS. Giám sát của cá nhân là một trong những hình thức của giám sát xã hội, không mang tính quyền lực nhà nước đối với hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền trong TTHS. Khi cá nhân phát hiện thấy hoạt động của cơ quan có thẩm quyền TTHS, người có thẩm quyền TTHS có sai phạm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác có thể khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 469 và Điều 478 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), góp phần tích cực trong việc hình thành dư luận xã hội, tác động đến các cơ quan nhà nước, gây áp lực buộc các cơ quan nhà nước xem xét, điều chỉnh, khắc phục những sai lầm, thiếu sót của mình. Giám sát của cá nhân là nguồn quan trọng để các hành vi vi phạm quyền con người có thể bị phát hiện và khắc phục kịp thời.
Tóm lại, bảo đảm quyền của người bị hại không chỉ là nghĩa vụ pháp lý của mỗi quốc gia mà còn là yêu cầu nhân văn và chuẩn mực quốc tế. Việt Nam đã có những bước tiến nhất định trong nội luật hóa và triển khai các quy định này, song vẫn tồn tại khoảng cách nhất định, đặc biệt ở cơ chế bồi thường, hỗ trợ toàn diện và bảo đảm khả năng tiếp cận công lý cho nhóm yếu thế. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và TTHS theo hướng cụ thể hóa đầy đủ các quyền của người bị hại, đồng thời xây dựng các cơ chế thực thi khả thi, minh bạch và dễ tiếp cận.
ThS. Nguyễn Đức Sơn
Nghiên cứu sinh Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 49 (10/2025)
---
Tài liệu trích dẫn
(1) Liên hợp quốc (1985). Tuyên bố về các Nguyên tắc cơ bản về công lý cho nạn nhân của tội phạm và lạm quyền (A/RES/40/34), Đại hội đồng Liên hợp quốc, 29/11/1985 (Phần A, mục 1).
(2) Liên hợp quốc (2005). Nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản về quyền được khắc phục và bồi thường cho nạn nhân của các vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền và luật nhân đạo quốc tế (A/RES/60/147), Đại hội đồng Liên hợp quốc, 16/12/2005 (Điều 1).
(3) Hội đồng châu Âu (1983). Công ước châu Âu về bồi thường cho nạn nhân của tội phạm bạo lực (ETS No. 116), Strasbourg, 24/11/1983 (Điều 1).
(4) Liên hợp quốc (2005). Nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản về quyền được khắc phục và bồi thường cho nạn nhân của các vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền và luật nhân đạo quốc tế (A/RES/60/147), Đại hội đồng Liên hợp quốc, 16/12/2005, Điều 4,5.
(5) Liên hợp quốc (1985). Tuyên bố về các Nguyên tắc cơ bản về công lý cho nạn nhân của tội phạm và lạm quyền (A/RES/40/34), Đại hội đồng Liên hợp quốc, 29/11/1985, Khoản 16.
(6) Tlđd, Điều 6.
(7) Liên Hợp Quốc (2005). Nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản về quyền được khắc phục và bồi thường cho nạn nhân của các vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền và luật nhân đạo quốc tế (A/RES/60/147), Đại hội đồng Liên hợp quốc, 16/12/2005, Đoạn 14,15, 16, 17.
(8) Liên hợp quốc (1985). Tuyên bố về các Nguyên tắc cơ bản về công lý cho nạn nhân của tội phạm và lạm quyền (A/RES/40/34), Đại hội đồng Liên hợp quốc, 29/11/1985, Đoạn 19, 20, 21.
(9) Liên hợp quốc (1985), Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của công lý đối với nạn nhân của tội phạm và lạm dụng quyền lực, điều 8.
(10) Như trên, điều 9.
(11) Như trên, điều 10.
(12) Như trên, Đoạn 5,7,12.
(13) Liên hợp quốc (2005). Nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản về quyền được khắc phục và bồi thường cho nạn nhân của các vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền và luật nhân đạo quốc tế (A/RES/60/147), Đại hội đồng Liên hợp quốc, 16/12/2005, đoạn 12.
(14) Hội đồng châu Âu (1983). Công ước châu Âu về bồi thường cho nạn nhân của tội phạm bạo lực (ETS No. 116), Strasbourg, 24/11/1983.
(15) Asian Human Rights Commission.
(16) ASEAN Intergovernmental Commission on Human Rights.
(17) ASEAN Commission on the Promotion and Protection of the Rights of Women and Children.
(18) Việt Nam hiện đã tham gia 7/9 Điều ước quốc tế về quyền con người, gồm: 1) Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1982; 2) Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1982; 3) Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD) năm 1982; 4) Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1982; 5) Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (CAT) năm 2015; 6) Công ước về quyền trẻ em (CRC) năm 1989; 7) Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD) năm2015.
(19) Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
(20) Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự.