Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được thể hiện xuyên suốt trong Hiến pháp, pháp luật và các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Trên cơ sở chính sách nhất quán đó, Việt Nam đã nghiêm túc triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế trong lĩnh vực quyền con người... Vì vậy, việc mở rộng hợp tác quốc tế, trong đó các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên được xác định là địa bàn trọng tâm, trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo thực hiện quyền con người một cách hiệu quả hơn trong giai đoạn hiện nay.

Ảnh minh họa. Nguồn: qdnd.vn

1. Hội nhập quốc tế gắn với đảm bảo quyền con người

Quá trình hội nhập quốc tế đã thúc đẩy và giúp các quốc gia tiếp cận đầy đủ hơn với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, đồng thời tạo điều kiện để họ chủ động và có trách nhiệm trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách bảo vệ quyền con người cũng như tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực nhân quyền, giáo dục, y tế, lao động,... Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu và sức ép mới đối với việc đảm bảo quyền con người, buộc các quốc gia phải nhận diện kịp thời và có giải pháp phủ hợp để đáp ứng.

Đối với Việt Nam, sự phát triển của đất nước trên nhiều phương diện từ chính trị đến kinh tế, văn hóa và xã hội,… đã đạt được nhiều thành tựu tích cực. Đặc biệt, từ sau Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), với chủ trương “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế”, Việt Nam đã hướng tới xây dựng và tổ chức thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, các chính sách tập trung giải quyết các vấn đề xã hội như: an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục,... Do đó, Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể trong nâng cao điều kiện, mức sống của người dân, từ đó, thúc đẩy việc đảm bảo quyền con người một cách tốt hơn. Hội nhập tích cực, chủ động với thế giới gắn với tận dụng những thuận lợi nhằm phát triển hơn nữa quyền con người như: (i) Nhận thức lý luận của Đảng được phát triển hơn, nhận thức của các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt trong tiếp cận và nắm bắt về quyền con người; (ii) Thể chế chính trị ngày càng hoàn thiện và ổn định; (iii)Thể chế pháp lý của Nhà nước pháp quyền ngày càng hoàn thiện, tạo khuôn khổ để các quyền con người được ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm được hiện; (iv) Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) từng bước hoàn thiện; (v) Sự hiểu biết, tinh thần thiện chí và những quan hệ thiết thực được xây dựng giữa các tổ chức quốc tế với Chính phủ Việt Nam và các cấp chính quyền địa phương ngày càng được thúc đẩy, cải thiện; (vi) Môi trường và điều kiện để người dân được tiếp cận với thông tin ngày càng thuận lợi hơn... Do vậy, các quyền dân sự, chính trị của người dân (quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do đi lại, quyền tham gia quản lý nhà nước,..), quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội (quyền đảm bảo việc làm, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được học tập, quyền thụ hưởng văn hóa,…) và các quyền của nhóm dễ bị tổn thương (quyền của phụ nữ, quyền của trẻ em, quyền của người bị khuyết tật, quyền của người dân tộc thiểu số, quyền người cao tuổi,…) trong xã hội được ghi nhận, tôn trọng và được bảo đảm tốt hơn. Song song với đó, khó khăn và thách thức được nhận diện phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn như: (i) Thách thức về việc cần thay đổi nhận thức về nắm bắt quyền con người của một số tổ chức chính quyền từ Trung ương đến địa phương; (ii) Thách thức từ nhận thức của chính người dân trong việc nắm bắt và theo kịp sự tiến bộ của quyền con người; (iii) Sự hạn chế trong yêu cầu đáp ứng mức độ hoàn thiện thể chế pháp lý nhằm ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền con người; (iv) Sự thiếu thiện chí của một số thế lực mà trong đó có sự tác động và ảnh hưởng rất lớn của thế lực thù địch, phần tử cơ hội chống đối lại những thành quả đạt được về quyền con người; (v) Sự phát triển về kinh tế - xã hội còn có những hạn chế;…

Trên bình diện quốc tế, Việt Nam là thành viên của nhiều công ước quan trọng về quyền con người như: Công ước về quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), Công ước xóa bỏ phân biệt đối xử phụ nữ (CEDAW), Công ước quyền trẻ em (CRC)... Hội nhập quốc tế và đảm bảo quyền con người có mối quan hệ hai chiều, tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, đó đó, thông qua hội nhập quốc tế đã giúp Việt Nam nâng cao chuẩn mực quyền con người và theo chiều ngược lại, khi đảm bảo quyền con người giúp Việt Nam hội nhập một cách bên vững, có trách nhiệm. Việc tham gia những cam kết này thể hiện rõ thiện chí của Việt Nam trong đảm bảo và thúc đẩy quyền con người theo chuẩn mực quốc tế. Chính vì vậy, trong yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam cần thiết phải ghi nhận những thành tựu và nhìn nhận rõ những hạn chế trong việc ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Điều này này đóng vai trò vô cùng quan trọng để trong đối thoại, trong đấu tranh về quyền con người, Việt Nam có cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn để thế giới hiểu rõ những nổ lực của Việt Nam khi đạt được thành tựu về quyền con người, đồng thời, có cơ sở để đấu tranh với những xuyên tạc, vu cáo nhằm lợi dụng quyền con người của các thế lực thù địch trong nước và nước ngoài.

2. Thực tiễn hội nhập quốc tế gắn với đảm bảo quyền con người tại các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên

Hợp tác quốc tế là một cơ chế hỗ trợ quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững, bảo đảm quyền con người, đặc biệt ở những vùng khó khăn thuộc các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Thời gian qua, các tổ chức quốc tế, các nước đối tác và tổ chức phi chính phủ đã đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện điều kiện sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người yếu thế mà trong đó, người dân tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên cũng được thụ hưởng các chính sách đặc thù cho nhóm yếu thế: trẻ em, phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật... Từ đó, nâng cao chất lượng sống, giảm nghèo, mở rộng tiếp cận y tế, giáo dục, an sinh xã hội. Cụ thể như:

  • Về giảm nghèo bền vững và phát triển sinh kế là một trong các lĩnh vực được chú trọng tại các tỉnh miền Trung,Tây Nguyên với các dự án do Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ đã hỗ trợ xây dựng hạ tầng giao thông, cấp nước, điện nông thôn, phát triển nông nghiệp tại Quảng Trị, Quảng Nam, Kon Tum, Đắk Lắk... Chương trình giảm nghèo cho vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn do Chính phủ Ireland, Nhật Bản, Hàn Quốc tài trợ (thông qua Ủy ban Dân tộc) nhằm cung cấp vốn, kỹ thuật cho các mô hình trồng trọt, chăn nuôi bền vững. Cụ thể năm 2023, Chính phủ Ireland, phối hợp với UNDP đã triển khai Chương trình hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao, nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo ở Việt Nam, đồng thời, có những cam kết hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Bằng sự nỗ lực và tính chủ động của nhiều địa phương trong tổ chức triển khai thực hiện và lồng ghép nguồn lực từ các chương trình, dự án khác trên địa bàn vượt mục tiêu kế hoạch được giao như: tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số của 17 tỉnh khu vực miền Trung Tây Nguyên bình quân đạt 3,81%, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra là trên 3%; Một số địa phương đạt mức giảm nghèo cao: Thừa Thiên Huế (11,04%), Quảng Nam (7%), Khánh Hòa (6%), Quảng Ngãi (5,37%), Đăk Nông (5%)[1]... Đối với một số chỉ tiêu cụ thể của các chương trình, dự án mức độ đạt được khá cao cho thấy mức độ phát triển nhằm cải thiện mức độ dịch vụ công phục vụ người dân được chú trọng như tại tỉnh Đắk Lắk có 92,79% hộ đồng bào dân tộc thiểu số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh (bao gồm cả nước sạch), trong đó 12,07% sử dụng nước sạch đạt chuẩn[2]; tỉnh Kon Tum tỉ lệ số thôn có đường ô tô đến trung tâm thôn, xã được cứng hóa đạt 80% (tháng 10/2024)[3] hay huyện M’Đrắk tỉnh Đắk Lắk đạt tỉ lệ tỷ lệ đường xã, thôn, buôn và đường liên thôn, buôn đạt 100%[4]; ngoài ra, tỉ lệ học sinh trong độ tuổi học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến trường; tỉ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng… đều hoàn thành sớm cũng như hoàn thành cao là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội[5].
  • Về lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe, tổ chức Y tế thế giới (WHO) và UNICEF hỗ trợ nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt trong tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em. Các dự án của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Tổ chức Y tế Hà Lan – Việt Nam đã hỗ trợ thiết bị y tế, tập huấn cho cán bộ y tế tuyến xã tại miền Trung, Tây Nguyên. Qua các chương trình hợp tác kết quả thu được rất tích cực khi vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh giảm, tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận với dịch vụ y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tầm soát bệnh tật ngày càng tăng,… Trong đó, việc triển khai Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em”[6] với chính sách hỗ trợ đi lại cho bà mẹ và 1 người nhà chăm sóc khi đến khám thai tại cơ sở y tế đủ 4 lần trong suốt thai kỳ (theo khuyến cáo của ngành y tế) và hỗ trợ bà mẹ gói vật tư chăm sóc khi sinh trong trường hợp sinh từ 2 bé trở lên trong 1 lần sinh, với mức thêm 300.000 đồng/bé đã góp phần xóa bỏ các định kiến và khuôn mẫu giới, những tập tục văn hóa có hại và một số vấn đề xã hội cấp thiết cho phụ nữ và trẻ em[7].
  • Về lĩnh vực giáo dục và nâng cao năng lực, có sự tham gia của các tổ chức Save the Children, Plan International, VVOB (Bỉ) triển khai chương trình giáo dục mầm non, kỹ năng sống cho trẻ em dân tộc thiểu số tại Kon Tum, Quảng Nam, Đắk Nông. Plan International trực tiếp hỗ trợ 32.000 trẻ em dân tộc thiểu số tại 66 xã thuộc 13 huyện ở 5 tỉnh (Kon Tum, Hà Giang, Lai Châu, Quảng Bình và Quảng Trị) hay VVOB đã hợp tác với Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên để nâng cao năng lực cho giáo viên mầm non, xây dựng bộ công cụ giảng dạy phù hợp với trẻ em dân tộc thiểu số khi tập trung vào việc phát triển môi trường học tập an toàn, thân thiện, có tính đến ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, đồng thời đào tạo giáo viên bản địa nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, qua kết quả đánh giá của dự án này tại tỉnh Đắk Lắk đã đạt được nhiều kết quả thiết thực, cụ thể: Trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, HĐND các cấp tăng; Trong lĩnh vực kinh tế, hàng ngàn hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ thoát nghèo; Trong lĩnh vực giáo dục, tỷ lệ nữ có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ tăng cao. Trong lĩnh vực văn hóa, số lượng phụ nữ tham gia các hoạt động văn hóa, tinh thần chiếm tỷ lệ cao,...[8]
  • Về bình đẳng giới, các dự án như "Giáo dục cho mọi người" của UNESCO góp phần tăng tỷ lệ đến trường, giảm tình trạng bỏ học sớm, đào tạo giáo viên vùng dân tộc thiểu số, mô hình “Ngôi nhà bình yên” hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị bạo lực gia đình tại Quảng Bình, Thừa Thiên Huế do tổ chức UN Women và các đối tác tài trợ. Dự án 8 đã có sự hỗ trợ và hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em tại các vùng khó khăn như: Tổ chức UN Women: Hợp tác trong việc xây dựng và triển khai các chương trình nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, và tăng cường quyền năng cho phụ nữ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Tổ chức Plan International: Phối hợp thực hiện các hoạt động giáo dục giới tính, phòng chống tảo hôn, và hỗ trợ trẻ em gái tiếp cận giáo dục tại các vùng khó khăn; Tổ chức CARE International: Hỗ trợ trong việc phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số, thông qua các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ tài chính; Tổ chức Save the Children: Tham gia vào các hoạt động bảo vệ trẻ em, nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền trẻ em và phòng chống bạo lực đối với trẻ em. Các hợp tác này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu của Dự án 8, đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng, cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy bình đẳng giới tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
  • Về lao động, việc làm, tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong hợp tác với Việt Nam cũng đã triển khai nhiều hoạt động sự hỗ trợ về việc làm, an sinh xã hội mà trong đó, các dự án tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên tập trung nhiều vào việc thúc đẩy việc làm bền vững, cải thiện điều kiện lao động và mở rộng hệ thống an sinh xã hội. Ví dụ như dự án “Tăng cường việc làm bền vững trong nông nghiệp và du lịch sinh thái” tại miền Trung từ năm 2022 đến nay là một mô hình hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn theo hướng phi nông nghiệp bền vững. Qua đánh giá kết quả của dự án cho thấy dự án không chỉ bảo tồn văn hóa truyền thống, nâng cao vị thế cộng đồng nông thôn và tăng cường gắn kết xã hội,… mà tạo ra giá trị hữu ích trong việc gia tăng thu nhập bình quân hộ dân tham gia của dự án từ 2030% so với trước, tạo sinh kế tại chỗ ổn định, từ đó thúc đẩy giảm tỷ lệ di cư lao động tự do sang thành thị. Đặc biệt, tổ chức UNDP và JICA đã mang lại nhiều chương trình thiết thực nhằm nâng cao đời sống người dân. Nằm trong khuôn khổ thực hiện chương trình “Tăng cường khả năng chống chịu và sinh kế nông nghiệp”, dự án SACCR: “Tăng cường khả năng chống chịu của nông nghiệp quy mô nhỏ đối với an ninh nguồn nước do biến đổi khí hậu khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ” do Quỹ Khí hậu Xanh tài trợ thông qua UNDP triển khai thực hiện từ năm 2021 đến năm 2026 tại 5 tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk và Đắk Nông với mong đợi sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho hơn 222.400 người và hơn 335.000 người gián tiếp hưởng lợi[9].

3. Giải pháp thúc đẩy hợp tác quốc tế trong đảm bảo quyền con người ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời gian tới

Khu vực miền Trung, Tây Nguyên, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, địa hình phức tạp, điều kiện phát triển chưa đồng đều và nhiều nhóm yếu thế cần hỗ trợ, chính vì vậy, trên cơ sở một số định hướng cần được nhận diện khi thực hiện hợp tác quốc tế gắn với thực hiện đảm bảo quyền con người như: (i) Tăng cường huy động nguồn lực quốc tế cho các chương trình phát triển vùng đặc biệt khó khăn, thích ứng biến đổi khí hậu; (ii) Lồng ghép quyền con người vào phát triển bền vững, đảm bảo người dân được tham gia, giám sát và thụ hưởng công bằng; (iii) Nâng cao năng lực địa phương để chủ động tiếp cận, quản lý và triển khai hiệu quả các chương trình hợp tác quốc tế… Dưới đây là một số giải pháp cụ thể nhằm mở rộng hợp tác quốc tế trong đảm bảo quyền con người tại miền Trung,Tây Nguyên:

Thứ nhất, tăng cường đối thoại, hợp tác song phương và đa phương

Chính quyền địa phương các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên cần có sự chủ động kết nối, thiết lập các chương trình hợp tác phát triển với các tổ chức quốc tế như: UNDP, UNICEF, ILO, JICA, KOICA,… hoặc tìm kiếm các cơ hội được thụ hưởng các dự án, chương trình của các tổ chức phi chính phủ từ các chính sách hợp tác của Chính phủ Việt Nam. Bên cạnh đó, việc tích cực thúc đẩy mở rộng tham gia vào các sáng kiến khu vực như “Mạng lưới nhân quyền ASEAN” để học hỏi mô hình thực tiễn tốt và chia sẻ kinh nghiệm cũng như qua đó tiến hành việc kêu gọi sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ các cơ quan viện trợ phát triển (ODA) và tổ chức phi chính phủ nước ngoài (NGO) để triển khai các dự án về quyền con người tại địa phương.

Thứ hai, ưu tiên các lĩnh vực dễ bị tổn thương và có tác động bền vững

Nhìn một cách tổng quan, các quyền con người được thúc đẩy và hỗ trợ đảm bảo thụ hưởng từ các hoạt động hợp tác quốc tế thời gian qua được triển khai tại các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên tập trung nhiều trong lĩnh vực ở các quyền cơ bản. Đồng thời cũng dễ dàng nhận thấy rằng, các dự án và chương trình hỗ trợ tập trung nhiều vào lĩnh vực dễ bị tổn thương và có tác động bền vững. Chính vì thế, chính quyền địa phương các tỉnh miền Trung,Tây Nguyên cần chú trọng tập trung sự tìm kiếm và gia tăng hoạt động đối ngoại đối với các đối tác có những mục tiêu rõ nét và tích cực trong lĩnh vực trên. Ví dụ trong giáo dục, cần chú động thiết lập hợp tác với các tổ chức như VVOB, Plan International, Save the Children... mở rộng chương trình giáo dục hòa nhập, giáo dục mầm non, kỹ năng sống cho trẻ em dân tộc thiểu số hay an sinh xã hội cần tìm kiếm sự hợp tác với ILO, JICA, UNDP để hỗ trợ triển khai các chương trình như mô hình bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo trợ xã hội cho người khuyết tật, người già, phụ nữ đơn thân tại vùng sâu vùng xa. Kể cả lưu ý việc kết nối với các tổ chức như UN Women để thúc đẩy sự tham gia chính trị, kinh tế của phụ nữ, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giới và tham chính của nữ giới.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý gắn với yêu cầu xây dựng cơ chế phối hợp tại địa phương các tỉnh miền Trung,Tây Nguyên

Hoàn thiện thể chế pháp lý cần đặt trong yêu cầu xử lý tốt mối quan hệ giữa nguyên tắc phổ biến của quyền con người và điều kiện khách quan về trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Việc thỏa mãn quyền con người, đặc biệt là các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội, không thể vượt quá điều kiện khách quan. Chính vì vậy, trước yêu cầu của hội nhập cũng như đứng trước yêu cầu đòi hỏi đáp ứng được thể chế pháp lý quốc tế, hoàn thiện thể chế pháp lý của Việt Nam cần chú trọng trên cả ba nhóm quyền với yêu cầu cơ bản cần đạt được: (i) Về các quyền dân sự - chính trị với trọng tâm là hoàn thiện thể chế dân chủ, nhằm bảo đảm quyền của người dân trong tham gia xây dựng và kiểm soát Nhà nước, quyền được bày tỏ chính kiến, quyền tự do tôn giáo,…; (ii) Về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội gắn với yêu cầu trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền sở hữu, kinh doanh của người dân; hoàn thiện chính sách an sinh xã hội; chính sách giáo dục, hệ thống chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế cho người dân;… (iii) Về quyền của nhóm dễ bị tổn thương cần xác định rõ vấn của các chính sách gắn với đối tượng cụ thể như quyền việc làm của người bị khuyết tật, quyền của phụ nữ, quyền của trẻ em gắn với đặc thù giới, độ tuổi,... để vừa bảo đảm quyền cá nhân, vừa bảo đảm lợi ích chung của xã hội.

Yêu cầu thiết lập đầu mối điều phối các chương trình hợp tác quốc tế về nhân quyền tại từng địa phương các tỉnh miền Trung,Tây Nguyên phải đứng trên những yêu cầu chung ở trên và hướng đến việc xây dựng mối quan hệ tích cực, thấu hiểu, sẽ chia để thiết lập được cơ chế phố hợp tại các địa phương nhằm đảm bảo thống nhất, tránh chồng chéo, xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá kết quả thực hiện quyền con người có sự tham gia của cộng đồng và đối tác phát triển để bảo bảo triển khai các chương trình, dự án đang cùng thụ hưởng và thúc đẩy giá trị cùng thụ hưởng.

Thứ tư, tăng cường năng lực cán bộ địa phương, tạo sự thay đổi bền vững về nhận thức, kỹ năng quản lý và triển khai pháp luật, chính sách về quyền con người.

Bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế thông qua việc ban hành, rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật, các quy định và hướng dẫn cụ thể khi triển khai thực hiện chương trình, dự án với đòi hỏi cần phải thực hiện kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ làm nhằm góp phần thúc đẩy các chuẩn mực quốc tế về quyền con người tại địa phương. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt, là đội ngũ cán bộ cơ sở am hiểu tường tận các chính sách, pháp luật, có tinh thần trách nhiệm cao với sự nhiệt huyết, năng động, chủ động để tuyên truyền, vận động người dân. Do đó, ngay tại các chương trình, dự án luôn lưu ý việc xây dựng các hợp phần về đào tạo, chuyển giao và tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn cho cán bộ địa phương về luật pháp quốc tế, quản trị nhân quyền, kỹ năng giám sát, báo cáo và tiếp cận cộng đồng. Và thậm chí, ở một mức độ nào đó cần xem xét việc thành lập các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật về quyền con người tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, có sự hỗ trợ chuyên môn của các tổ chức quốc tế.

Thứ năm, tăng cường truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng

Tăng cường hợp tác quốc tế, sẵn sàng đối thoại về quyền con người, đồng thời đấu tranh với những đòi hỏi và luận điệu sai trái từ bên ngoài, đặc biệt lưu ý các thế lực muốn lợi dụng vấn đề quyền con người để can thiệp vào nước ta. Chính vì vậy, truyền thông không chỉ giúp hiểu về các chương trình, dự án để có hành động hợp tác mà còn thay đổi nhận thức ở góc độ tiếp cận tích cực sự hỗ trợ bên ngoài và thông qua đó nhận diện được những vấn đề về quyền con người để có cách ứng xử phù hợp. Do đó, cần thiết tăng cường vai trò của truyền thông địa phương trong việc phản ánh tiếng nói của người dân địa phương. Một số cách thức có thể được tiến hành như: (i) Tăng cường truyền thông đa phương tiện, các phương tiện truyền thông đại chúng thông qua đẩy mạnh truyền hình, phát thanh, báo chí địa phương bằng tiếng phổ thông và tiếng dân tộc thiểu số hay khai thác việc ứng dụng mạng xã hội với các kênh tiếp cận phổ biến: Facebook, Zalo, YouTube, đặc biệt với giới trẻ, song song với phát triển các chương trình phát thanh lưu động tại các vùng sâu, vùng xa, nơi người dân ít tiếp cận internet, tuy nhiên điểm cần lưu ý là nội dung dễ hiểu, gần gũi, minh họa bằng hình ảnh, video; (ii) Đa dạng hóa nội dung, hình thức truyền thông gắn với đặc thù văn hóa vùng miền thông qua các loại hình như chuyện kể, kịch ngắn, dân ca, hội diễn văn nghệ, tổ chức hội thi, chiếu phim lưu động, phát hành tài liệu minh họa (tranh ảnh, tờ rơi, infographic)…; (iii) Lồng ghép nội dung quyền con người vào giáo dục và đào tạo phù hợp với từng đối tượng như giảng dạy trong trường học: Đưa các nội dung cơ bản về quyền con người vào chương trình giáo dục phổ thông, dạy học qua các môn như Giáo dục công dân, Lịch sử,… thực hiện tập huấn cho cán bộ xã, thôn, đặc biệt là già làng, trưởng bản- những người có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng,…; (iv) Phát huy vai trò của cộng đồng và tổ chức xã hội thông qua việc huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên với việc tổ chức các buổi truyền thông, tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề hay thành lập các nhóm cộng tác viên, tuyên truyền viên trong thôn, bản để truyền đạt thông tin cho người dân…; (v) Tăng cường hỗ trợ pháp lý và tiếp cận thông tin để người dân hiểu rõ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và đảm bảo tiếp cận thông tin minh bạch, dễ hiểu từ chính quyền địa phương về các chính sách có liên quan đến người dân./.

TS. Nguyễn Thị Linh Giang

Học viện Chính trị khu vực III


[1] Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khu vực miền Trung -Tây Nguyên giai đoạn 2021 - 2023; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2023-2025.

[5] Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khu vực miền Trung -Tây Nguyên giai đoạn 2021 - 2023; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2023-2025.

[6] Dự án 8 là một trong 10 dự án thành phần thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030.

[7] Áp dụng tại 10 tỉnh có tỷ lệ sinh con tại nhà cao: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Nghệ An, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Gia Lai.

[8] Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện chiến lược bình đẳng giới, giai đoạn 2021-2030 và tổng kết Dự án 8 giai đoạn 2021-2025 của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đắk Lắk tổ chức ngày 22/5/2025.