Bài viết phân tích công bằng chính sách thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam dưới góc nhìn quyền con người. Tác giả thông qua nghiên cứu kết hợp lý thuyết công bằng thuế và đánh giá thực tiễn dựa trên nguyên tắc Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR). Theo đó, biểu thuế lũy tiến và giảm trừ gia cảnh góp phần bảo vệ công bằng nhưng ngưỡng khấu trừ chưa theo kịp chi phí sinh hoạt, thuế suất cao nhất áp dụng sớm, và thu nhập từ tài sản chưa chịu thuế tương xứng, gây bất bình đẳng. Từ những bất cập này, bài viết đưa ra kiến nghị nhằm điều chỉnh ngưỡng giảm trừ tự động theo CPI, cải thiện biểu thuế lũy tiến và bổ sung thuế tài sản để tuân thủ nghĩa vụ quyền con người.

Ảnh minh họa. Nguồn: baochinhphu.vn

Đặt vấn đề

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử[1]. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế.

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, đồng thời cũng là công cụ hữu hiệu để thực hiện chính sách phân phối lại thu nhập trong xã hội. Một hệ thống thuế TNCN hợp lý không chỉ giúp bảo đảm nguồn lực tài chính cho các hoạt động công cộng, mà còn phản ánh rõ nét sự công bằng xã hội và mức độ quan tâm của nhà nước đổi với quyền lợi của mỗi cá nhân. Trong đó, nguyên tắc công bằng được xem là tiêu chỉ quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả và tỉnh hợp lý của chính sách thuế.

Trên thực tế, việc xây dựng và thực thi một chính sách thuế TNCN công bằng luôn gặp không ít khó khăn, đặc biệt khi xem xét từ góc độ quyền con người. Một chính sách thuế thiếu công bằng có thể gây ra những tác động tiêu cực đến các quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền không bị phân biệt đối xử và quyền được hưởng mức sống thích đáng. Ví dụ, mức thuế quá cao hoặc ngưỡng chịu thuế không phù hợp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo đảm cuộc sống tối thiểu của người dân, nhất là những người có thu nhập thấp và trung bình. Ngược lại, chính sách miễn giảm thuế không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng bắt bình đẳng, làm mất đi tính công bằng theo chiều ngang và chiều dọc giữa những người nộp thuế.

Tại Việt Nam, thời gian gần đây, những tranh luận về tính hợp lý của chính sách thuế TNCN ngày càng được quan tâm rộng rãi. Các vấn đề như ngưỡng chịu thuế thấp, mức giảm trừ gia cảnh chưa phù hợp với thực tế, biểu thuế suất chưa thực sự phân ảnh khả năng đóng góp của người dân đã đặt ra nhiều câu hỏi về tỉnh công bằng và tác động của nó đến quyền con người. Điều này đòi hỏi phải có sự nhìn nhận nghiêm túc từ góc độ khoa học để đưa ra những đánh giá khách quan, toàn diện hơn về vấn đề này.

Xuất phát từ thực tiễn trên, bài viết lựa chọn nghiên cứu chủ đề “Công bằng trong chính sách thuế thu nhập cá nhân: Góc nhìn từ quyền con người”, nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tính công bằng của chính sách thuế TNCN và việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân. Chính sách thuế TNCN hiện hành tại Việt Nam đã bảo đảm được tính công bằng và tôn trọng đầy đủ các quyền con người cơ bản như thế nào? Từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm hoàn thiện chính sách thuế, góp phần xây dựng xã hội công bằng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mỗi cá nhân

1. Cơ sở lý luận về công bằng trong thuế thu nhập cá nhân và quyền con người

a) Khái niệm và các nguyên tắc công bằng trong chính sách thuế TNCN

Công bằng thuế là nguyên tắc bảo đảm việc phân phối gánh nặng thuế một cách công bằng trong xã hội, dựa trên khả năng đóng góp của cá nhân/tổ chức. Công bằng trong thuế thu nhập cá nhân được hiểu thông qua hai khía cạnh chủ yếu:

- Công bằng theo chiều ngang: Những cá nhân có cùng mức thu nhập và hoàn cảnh tương tự nhau cần phải chịu mức thuế như nhau. Điều này nhằm bảo đảm không có sự phân biệt đối xử hoặc thiên vị trong việc xác định nghĩa vụ thuế.

- Công bằng theo chiều dọc: Những người có khả năng tài chính cao hơn cần đóng góp một tỷ lệ thuế lớn hơn so với những người có thu nhập thấp hơn. Nguyên tắc này thể hiện rõ nét qua biểu thuế lũy tiến, giúp giảm sự chênh lệch giàu nghèo và bảo đảm tải phân phối thu nhập hợp lý.

Một chính sách thuế TNCN tốt cần cân bằng được cả hai khía cạnh này nhằm tạo ra sự đồng thuận xã hội và bảo đảm tính ổn định, bền vững của nguồn thu ngân sách. Có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nguyên tắc đánh thuế nhưng nổi tiếng nhất là nguyên tắc của Adam Smith “bình đẳng, xác thực, tiện lợi và ít tốn kém”. Một số nguyên tắc cơ bản sau đây cần phải được tuân thủ: Thứ nhất, đánh thuế phải bảo đảm công bằng; Thứ hai, đánh thuế phải bảo đảm cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế; Thứ ba, đánh thuế phải bảo đảm để hiểu, đạt hiệu quả; Thứ tư, đánh thuế phải bảo đảm không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần.

b) Mối liên hệ giữa chính sách thuế TNCN và quyền con người

- Thuế thu nhập cá nhân - công cụ nhân quyền quốc tế

Theo Điều 2.1 của Công ước ICESCR, các quốc gia có nghĩa vụ “huy động tối đa các nguồn lực sẵn có” để từng bước thực hiện các quyền con người[2]. Trong bối cảnh đó, thuế thu nhập cá nhân - với đặc tính lũy tiến - trở thành công cụ then chốt để tạo ra nguồn ngân sách công cho các chính sách an sinh, giáo đục và y tế. Việc thiết kế một hệ thống thuế bảo đảm người có thu nhập cao đóng góp tương xứng với khả năng tài chính không chỉ là một nguyên tắc công bằng xã hội, mà còn là biểu hiện của trách nhiệm về quyền con người của nhà nước[3]. Ngược lại, nếu hệ thống thuế quá phụ thuộc vào thuế gián thu (như thuế giá trị gia tăng), người dân có thu nhập thấp sẽ phải gánh chịu tỷ lệ thuế cao hơn tính theo thu nhập - điều này đi ngược lại tinh thần của Công ước và làm trầm trọng thêm bất bình đẳng thu nhập[4].

- Thuế và quyền bình đẳng về hoàn cảnh xã hội

Thiết kế thuế thu nhập cá nhân không trung lập về mặt xã hội, nó có thể cùng cổ hoặc xóa bỏ bất bình đẳng. Một số chính sách thuế, dù vô tỉnh, có thể duy trì định kiến giới hoặc tạo ra rào cản cho các nhóm yếu thế. Nếu ngưỡng thuế không được điều chính theo mức sống tối thiểu, người thu nhập thấp sẽ bị đánh thuế bất công, vi phạm quyền có mức sống đầy đủ theo Điều 11 ICESCR[5]. Do đó, việc xây dựng một hệ thống thuế thu nhập cá nhân nhân văn, có xét đến yếu tố giới và hoàn cảnh xã hội, là thiết yếu để bảo đảm quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử[6].

- Thuế và khế ước xã hội

Ngoài việc tài trợ cho các quyền kinh tế - xã hội, thuế còn là một phần trong "khế ước xã hội" giữa Nhà nước và người dân. Khi người dân thấy hệ thống thuế công bằng, minh bạch và hiệu quả, họ có xu hướng tin tưởng vào chính quyền, sẵn sàng đóng góp. Việc đóng thuế từ thu nhập cá nhân tạo người dân cảm giác được tham gia vào đời sống chính trị - xã hội, thúc đẩy quyền đại diện và giảm sát Nhà nước[7] (Cobham, 2022). Ngược lại, nếu chỉnh sách thuế ưu ái cho thiểu số giàu có, trong khi đa số dân cư lại gánh nặng thuế gián thu, thì niềm tin công dân sẽ bị xói mòn – dẫn đến hệ lụy cho cả hệ thống dân chủ và quyền con người nói chung[8] (Tax Justice Network, 2021).

Thuế thu nhập cá nhân – nhìn từ góc độ nhân quyền - không đơn thuần là công cụ thu ngân sách, mà là biểu hiện cụ thể của nghĩa vụ Nhà nước trong việc bảo đảm một xã hội công bằng, bao trùm và bền vững. Việc thiết kế và thực thi chính sách thuế này phải đặt trên nền tăng các nguyên tắc nhân quyền như công bằng, không phân biệt đối xử và khả năng tiếp cận mức sống đầy đủ cho mọi người[9] (Alston & Reisch, 2019; CESR, 2024). Trong bối cảnh bất bình đẳng thu nhập và giới vẫn hiện diện rõ ràng tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, việc cải cách thuế thu nhập cá nhân theo hướng lũy tiến hơn, nhân văn hơn, không chỉ là vấn đề kỹ thuật – mà là một lựa chọn đạo lý và pháp lý. Chính sách thuế công bằng là bước đi thiết yếu để nối liền khoảng cách giữa các cam kết nhân quyền trên văn bản và việc thực thi các quyền đó trong đời sống thực tế[10] (UN, 1966; Edrey, 2014).

2. Phân tích tính công bằng trong chính sách thuế TNCN hiện hành tại Việt Nam dưới góc độ quyền con người

a) Tổng quan về chính sách thuế TNCN hiện hành tại Việt Nam

Thuế thu nhập cá nhân là hình thức thuế thu vào các khoản thu nhập của các cá nhân kinh doanh và không kinh doanh. Ở nước ta trước đây, trong điều kiện nền kinh tế vận hành ha theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, do nguồn thu nhập của dân cư trong xã hội mang tính chất thuần nhất nên Nhà nước ta doanh. Sau khi thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lí tử cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ phân phối thu nhập theo cơ chế thị trường hình thành phát triển, thu nhập của người dân được cải thiện. Bên cạnh đó, sự phân hoá thu nhập và phân cực giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội diễn ra rất nhanh. Để động viên một phần thu nhập của một bộ phân dân cư có thu nhập cao hơn so với mức thu nhập chung của cộng đồng vào ngân sách nhà nước và thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, ngày 27/12/1990, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Pháp lệnh này được áp dụng trên thực tế kể từ ngày 01/4/1991. Qua quá trình tổ chức thực hiện, pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiền lần. Ngày 21/11/2007, Quốc hội đã ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Hiện nay, pháp luật thuế TNCN đã có nhiều thay đổi và cài cách như sau:

Đối tượng chịu thuế. Cá nhân cư trú và không cư trú có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

Biểu thuế suất lũy tiến từng phần: Từ 5% đến 35% với 7 bậc thuế, áp dụng cho cả nhân cư trú.

Ngưỡng khởi điểm chịu thuế: 11 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế và 4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc.

Các khoản giảm trừ. Giảm trừ gia cảnh, các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc, từ thiện, nhân đạo,...

b) Đánh giá tính công bằng của chính sách thuế TNCN hiện hành

Những điểm tích cực về tính công bằng nhân quyền trong thuế TNCN Việt Nam

Biểu thuế lũy tiến từng phần - thể hiện nguyên tắc “năng lực đóng góp”.

Hiện nay, Việt Nam áp dụng biểu thuế suất lũy tiến từng phần với 7 bậc, từ 5% đến 35%. Cách tỉnh này dựa trên nguyên tắc công bằng dọc: người có thu nhập cao hơn sẽ chịu thuế suất cao hơn trên phần thu nhập vượt ngưỡng, phù hợp với nguyên tắc công bằng theo khả năng và nghĩa vụ huy động nguồn lực trong Công ước ICESCR (Điều 2.1)

Mức giảm trừ gia cảnh giúp. bảo vệ mức sống tối thiểu.

Người nộp thuế được giảm trừ gia cảnh gồm:

- 11 triệu đồng/tháng cho bản thân

- 4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc

Đây là một cơ chế bảo vệ quyền có mức sống đầy đủ (Điều 11 ICESCR) vì phần thu nhập cần thiết cho chi phí cơ bản của cá nhân và gia đình được miễn thuế. Cách thiết kế này được xem là tiệm cận nguyên tắc “thuế không đẩy người nghèo vào nghèo hơn”[11] (UN Women & Oxfam, 2016).

Đánh thuế theo cá nhân, không theo hộ - giảm phân biệt giới tỉnh

Khác với nhiều nước đánh thuế theo hộ gia đình (gây bất lợi cho phụ nữ làm nội trợ), Việt Nam đánh thuế theo từng cá nhân độc lập. Điều này giúp hạn chế tình trạng bắt bình đẳng giới trong đóng góp thuế và phù hợp với Điều 3 của ICESCR - quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong thụ hưởng các nghĩa vụ và lợi ích tài chính công[12] (Le & Pham, 2022).

Những hạn chế trong tính công bằng nhìn từ - nhân quyền.

Ngưỡng giảm trừ gia cảnh không theo kịp chi phí sống tối thiểu.

Mức giảm trừ gia cảnh hiện tại (từ 2020) chưa được điều chỉnh theo lạm phát hoặc mức sống thực tế, trong khi giá cả sinh hoạt tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM đã tăng nhanh. Điều này khiến người có thu nhập thấp phải nộp thuế từ ngưỡng còn dưới mức sống đủ, vì phạm quyền sống đầy đủ (Điều 11 ICESCR).

Tác động quyền con người: Người thu nhập 15-18 triệu đồng/tháng ở đô thị, sau khi trừ giảm trừ gia cảnh, vẫn bị đánh thuế, trong khi chưa đủ chi trả cho nhu cầu cơ bản như nhà ở, giáo dục, y tế - mâu thuẫn với nghĩa vụ “huy động công bằng”[13] (CESR, 2024).

Bậc thuế cao nhất (35%) bắt đầu từ mức thu nhập quá thấp

Thu nhập từ 80 triệu đồng/tháng đã phải chịu thuế suất 35% - tức là nhóm người “thu nhập khả” cũng bị xếp ngang hàng với nhóm “thu nhập rất cao”. Điều này khiến chính sách TNCN tại Việt Nam bị đánh giá là chưa thực sự lũy tiến theo chiều sâu, làm suy yếu hiệu quả tái phân phối và giảm công bằng chiều ngang giữa người thực sự giàu và nhóm trung lưu trên[14] (Cobham, 2022).

Chưa đánh thuế tài sản - tạo bất bình đẳng dọc (thu nhập vs. tài sản)

Trong khi thuế TNCN tập trung vào thu nhập từ lao động, thì thu nhập từ đầu tư, tài sản (cổ tức, lợi tức vốn, thừa kế, chuyển nhượng bắt động sản...) lại chịu thuế thấp hơn hoặc miễn thuế, tạo ra sự thiên lệch có lợi cho người giảu. Điều này dẫn đến vi phạm nguyên tắc công bằng chiều dọc (vertical equity), và hạn chế nghĩa vụ tái phân phối tài sản - một trọng tâm của công bằng xã hội trong nhân quyền[15] (Alston & Reisch, 2019).

3. Hạn chế và phương hướng hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân nhằm bảo đảm quyền con người

Từ những vẫn đề nêu trên, việc hoàn thiện chính sách thuế TNCN theo hướng công bằng hơn, bảo đảm tốt hơn các quyền con người là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Cũng chính mong muốn mang lại những điều tốt đẹp hơn, phát huy một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tác giả xin đưa ra những hạn chế chính cần khắc phục như sau:

- Giảm trừ gia cảnh không theo kịp mức sống vì vậy cần xây dựng cơ chế điều chỉnh tự động theo CPI hoặc mức sống trung bình hàng năm.

- Xây dựng biểu thuế suất lũy tiến hợp lý hơn.

- Cần có cơ chế quản lý thu nhập từ các nguồn khó kiểm soát còn yếu kém, tạo ra bất công bằng ngang.

- Xem xét lại phương án đánh thuế thu nhập từ tài sản tương xứng như điều chỉnh thuế chuyển nhượng, cổ tức, và thuế tài sản để bảo đảm công bằng dọc.

Dưới góc nhìn quyền con người, tính công bằng trong chính sách thuế TNCN không chỉ là kỹ thuật tài chính, mà là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm Nhà nước trong việc bảo vệ giá trị con người, bình đẳng và mức sống đủ cho công dân. Việt Nam đã có những nền tảng tích cực, nhưng vẫn cần cải cách để bảo đảm hệ thống thuế lũy tiến hơn, nhân văn hơn và phản ánh tốt hơn năng lực đóng góp thực tế, từ đó góp phần thực thi nghĩa vụ nhân quyền quốc tế một cách thiết thực và có chiều sâu.

Lê Thị Hồng Ngân

Chuyên viên Nhân sự tại Phòng Nhân sự, Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam


[1] Viện nghiên cứu và phố biển trị thức bách khoa, Đại từ điển kinh tế thị trường, Hà Nội, 1998, tr.669.

[2] United Nations. (1966). International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights. https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/international-covenant-economic-social-and-cultural-rights.

[3] Alston, P., & Reisch, N. (Eds.). (2019), Tax, Inequality, and Human Rights. Oxford University Press.

[4] Edrey, Y. M. (2014). Taxation and Human Rights: A Delicate Balance. University of Haifa Law Review.

[5] United Nations. (1966). International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights. https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/international-covenant-economic-social-and-cultural-rights.

[6] Le, T. H., & Pham, T. T. (2022). Bình đẳng giới trong pháp luật thuế ở Việt Nam. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (3), 45-50.

[7] Cobham, A. (2022). Taxing for a new social contract. IMF Fiscal Monitor. https://www.imf.org.

[8] Tax Justice Network. (2021). Tax Justice and Human Rights. https://taxjustice.net/reports/tax-justice-human-rights.

[9] Alston, P., & Reisch, N. (Eds.). (2019), Tax, Inequality, and Human Rights. Oxford University Press.

CESR. (2024). Why taxing the ultra-rich is a human rights obligation. Center for Economic and Social Rights. https://cesr.org/taxing-rich-human-rights.

[10] United Nations. (1966). International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights. https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/international-covenant-economic-social-and-cultural-rights.

Edrey, Y. M. (2014). Taxation and Human Rights: A Delicate Balance. University of Haifa Law Review

[11] UN Women & Oxfam. (2016). Gender and Taxation in Vietnam: A Feminist Analysis, UN Women Vietnam

[12] Le, T. H., & Pham, T. T. (2022). Bình đẳng giới trong pháp luật thuế ở Việt Nam. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (3), 45-50.

[13] CESR. (2024). Why taxing the ultra-rich is a human rights obligation. Center for Economic and Social Rights. https://cesr.org/taxing-rich-human-rights.

[14] Cobham, A. (2022). Taxing for a new social contract. IMF Fiscal Monitor. https://www.imf.org.

[15] Alston, P., & Reisch, N. (Eds.). (2019), Tax, Inequality, and Human Rights. Oxford University Press.